Đấng Christ Và Các Sứ Đồ – Sa-bát Trong Tân Ước

Chúa Giê-su Có Bãi Bỏ Sa-bát?: Ý nghĩa thật sự sau các cuộc chữa bệnh ngày Sa-bát

Chúa Giê-su thường xuyên chữa bệnh và bị người Pha-ri-si chỉ trích trong ngày Sa-bát là bằng chứng Ngài muốn bãi bỏ ngày này. Tuy nhiên, các nhà tiên phong SDA lập luận rằng Chúa Giê-su, với tư cách là Đấng Lập Pháp, đang thực hiện một cuộc cải chánh. Ngài không phá hủy ngày Sa-bát; Ngài đang giải phóng nó khỏi những truyền thống khắc nghiệt làm biến dạng bản chất yêu thương của Đức Chúa Trời.

  • Ma-thi-ơ 12:12: “Một người đáng quí hơn con chiên biết bao! Vậy, trong ngày Sa-bát có phép làm việc lành.”
  • Mác 2:27-28: “Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát.
  • Ê-sai 42:21: “Đức Giê-hô-va vì sự công bình mình, lấy làm vui lòng để tôn vinh luật pháp và làm cho trở nên rực rỡ.” (Chúa Giê-su làm cho Sa-bát rực rỡ hơn, chứ không phải lu mờ đi).

Về mục đích của việc chữa bệnh- Bằng cách chữa lành người bệnh trong ngày Sa-bát, Đấng Christ đã quét sạch những giáo điều vô nhân đạo vốn biến ngày nghỉ của Chúa thành một gánh nặng. Ngài bày tỏ rằng Sa-bát là ngày của sự giải phóng, ngày để xoa dịu nỗi đau và phục hồi sự sống.

Về sự nhất quán của Đấng Christ – Chúa Giê-su không thể mâu thuẫn với chính Ngài. Chính Ngài đã ban luật pháp tại Sinai. Việc Ngài chữa bệnh vào ngày thứ bảy là để chứng minh rằng ngày Sa-bát không bao giờ ngăn cản lòng nhân từ. Tội lỗi mới là thứ cần bị loại bỏ, chứ không phải ngày thánh.

Về sự hiểu lầm của người Pha-ri-si – Sai lầm của người Pha-ri-si là coi ngày Sa-bát quan trọng hơn con người. Chúa Giê-su đã điều chỉnh lại: Sa-bát vì loài người. Ngài không hạ thấp Sa-bát, nhưng Ngài nâng cao giá trị của con người trong ngày đó.

Về thẩm quyền của Đấng Lập Pháp – Chúa Giê-su tuyên bố mình là Chúa của ngày Sa-bát. Một vị vua không bao giờ phế truất chính mình. Ngài đứng ra bảo vệ Sa-bát khỏi những gông cùm của truyền thống để nhân loại có thể hưởng phước hạnh thật sự mà Ngài đã đặt vào đó từ thuở Sáng thế.

Chúa Giê-su luôn giữ ngày Sabbath

Chúa Giê-su không chỉ giảng về luật pháp; Ngài sống luật pháp đó. “Thói quen” đi nhà hội và biệt riêng ngày thứ bảy của Ngài không phải là sự ép buộc của luật lệ Do Thái, mà là sự bày tỏ bản chất thánh khiết của Đấng đã lập ra ngày đó từ thuở Sáng thế.

  • Lu-ca 4:16: “Đức Chúa Giê-su đến thành Na-za-rét… theo thói quen, Ngài vào nhà hội trong ngày Sa-bát, rồi đứng dậy để đọc.” (Chữ “thói quen” cho thấy một sự vâng giữ nhất quán suốt đời).

  • Giăng 15:10: “Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.”

  • 1 Phi-e-rơ 2:21: “Anh em đã được gọi đến sự đó; vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một dấu chân, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài.”

Tính nhất quán- Nếu Chúa Giê-su có ý định bãi bỏ ngày thứ bảy và thay bằng ngày thứ nhất, tại sao Ngài lại dành 33 năm trên đất để thiết lập một thói quen giữ ngày thứ bảy vững chắc như vậy? Ngài không bao giờ làm điều gì thừa thãi. Mọi bước đi của Ngài đều là sự xác nhận cho luật pháp vĩnh cửu.

Thẩm quyền gương mẫu của Chúa Giê-su – Chúng ta được kêu gọi để bước đi như Ngài đã bước đi. Chúa Giê-su đã bước vào nhà hội vào ngày thứ bảy; Ngài nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy; Ngài làm việc lành vào ngày thứ bảy. Những ai chối bỏ ngày thứ bảy là đang chọn một lối đi khác với dấu chân của Đấng Cứu Thế.

Sự tự do trong vâng phục – Chúa Giê-su không giữ Sa-bát như một nô lệ cho nghi lễ, mà như một người Con tự do vui thích trong ý muốn của Cha. Ngài cho chúng ta thấy rằng vâng giữ ngày thứ bảy là một sự tự do tâm linh, chứ không phải gánh nặng của chủ nghĩa luật pháp.

Các Sứ Đồ Vẫn Giữ Sabbath Sau Thập Tự Giá

Chúa sống lại vào ngày thứ nhất có mục đích thay đổi ngày Sa-bát, thì các Sứ đồ—những người trực tiếp nhận mệnh lệnh từ Chúa—phải là những người đầu tiên thực hiện sự thay đổi đó. Tuy nhiên, hồ sơ lịch sử trong sách Công vụ các Sứ đồ cho thấy một thực tế ngược lại: Trong suốt hàng chục năm sau Thập tự giá, họ vẫn giữ ngày thứ bảy làm ngày nhóm hiệp chính thức, ngay cả khi giảng dạy cho dân ngoại.

  • Công vụ 13:42, 44: “Khi hai người ra khỏi nhà hội, dân ngoại cầu khẩn đến ngày Sa-bát sau cũng giảng cho họ nghe lời đó… Đến ngày Sa-bát sau, gần hết cả thành đều nhóm lại để nghe đạo Chúa.” (Lưu ý: Phao-lô đã không bảo họ quay lại vào ngày mai/Chủ nhật).

  • Công vụ 16:13: “Đến ngày Sa-bát, chúng ta ra ngoài cửa thành, đến gần bên sông, là nơi chúng ta tưởng có chỗ cầu nguyện.” (Ngay cả khi không có nhà hội, các Sứ đồ vẫn biệt riêng ngày thứ bảy để thờ phượng).

  • Công vụ 18:4: “Hằng ngày Sa-bát, Phao-lô luận bài trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc (dân ngoại).”

Sự im lặng của Tân Ước đối với ngày Chủ nhật –Trong sách Công vụ, chúng ta tìm thấy hồ sơ của ít nhất 84 ngày Sa-bát được giữ bởi các Sứ đồ. Trong khi đó, không có một mệnh lệnh nào, không một lời dạy dỗ nào từ phía họ bảo tín hữu phải tôn thánh ngày thứ nhất của tuần lễ.

Cuộc tranh luận không tồn tại – Nếu các Sứ đồ thay đổi ngày Sa-bát sang Chủ nhật, chắc chắn đã xảy ra một cuộc tranh luận nảy lửa với những người Do Thái tin Chúa. Nhưng chúng ta thấy họ tranh luận về phép cắt bì, về thức ăn, nhưng chưa bao giờ tranh luận về việc đổi ngày nghỉ. Tại sao? Vì sự thay đổi đó chưa bao giờ xảy ra.

Lòng trung thành với Đấng Sáng Tạo- Các Sứ đồ hiểu rằng chức vụ của họ là rao giảng về một Đấng Christ đã phục sinh, nhưng là Đấng Christ đã thiết lập Sa-bát tại Ê-đen. Họ không thể rao giảng về Đấng Tạo Hóa mà lại chà đạp lên đài kỷ niệm của sự sáng tạo.

Giải Mã Các Phân Đoạn Khó Cô-lô-se 2 và Rô-ma 14

Phao-lô chưa bao giờ mâu thuẫn với chính mình. Một mặt ông khẳng định luật pháp là thánh, công bình và tốt lành (Rô-ma 7:12), mặt khác ông không thể bãi bỏ nó. Chìa khóa nằm ở việc phân biệt giữa Luật pháp Đạo đức (10 Điều Răn)Luật pháp Nghi lễ (Bóng mờ).

  • Cô-lô-se 2:16-17 –Chớ có ai đoán xét anh em về đồ ăn thức uống, hoặc về ngày lễ, ngày trăng mới, hay là ngày Sa-bát; ấy đều là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ.”

Trong tiếng Hy Lạp, từ “Sa-bát” ở đây là sabbatōn (số nhiều). Nó ám chỉ các ngày nghỉ lễ hàng năm của Do Thái giáo (như Lễ Vượt Qua, Lễ Chuộc Tội) vốn cũng được gọi là “Sa-bát” nhưng gắn liền với tế lễ và “đồ ăn thức uống”.

Có hai loại luật pháp: một loại bất biến và vĩnh cửu như ngôi của Chúa; một loại khác là tạm thời, được lập ra để chỉ về Đấng Christ. Phao-lô nói về loại thứ hai trong Cô-lô-se 2.

Danh từ số nhiều trong Cô-lô-se 2: 16-17 – “Phao-lô đang liệt kê các thành phần của luật nghi lễ: đồ ăn, thức uống, ngày trăng mới và các ngày ‘sa-bát’ năm (Lê-vi ký 23). Ông không bao giờ gộp ngày Sa-bát của Chúa vào danh sách các bóng mờ bị đóng đinh trên thập tự giá.”

  • Rô-ma 14:5-6 – Người này tưởng ngày này trọng hơn ngày khác, người kia tưởng mọi ngày đều bằng nhau. Ai nấy hãy tin chắc ở trí mình.Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa; kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ tạ ơn Đức Chúa Trời; kẻ chẳng ăn cũng chẳng ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Đức Chúa Trời.”

Phao-lô đang dạy sự khoan dung đối với những người mới tin đạo còn yếu đuối về việc giữ các ngày kiêng ăn Do Thái. Ông không bao giờ cho phép ai đó có ‘ý kiến riêng’ về việc lạy thần tượng hay vi phạm ngày Sa-bát.

Tại sao Chúa dặn môn đồ giữ Sa-bát khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt

Trong bài giảng về sự tận thế trên núi Ô-li-ve, Chúa Giê-su đã đưa ra một chỉ thị cụ thể cho các môn đồ về cuộc di tản khỏi thành Giê-ru-sa-lem (một sự kiện xảy ra vào năm 70 SCN, tức là gần 40 năm sau cái chết và sự sống lại của Ngài).

  • Ma-thi-ơ 24:20: “Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh trong mùa đông, hay là ngày Sa-bát.”

Sự tồn tại của Sa-bát sau thập tự giá – Chúa Giê-su nhìn thấy trước 40 năm tương lai. Nếu Ngài định đóng đinh ngày Sa-bát vào thập tự giá, Ngài đã không dạy các môn đồ phải cầu nguyện để tôn kính nó vào năm 70 SCN. Lời phán này xác nhận Sa-bát là một định chế của Tân Ước.

Sự quan phòng của Chúa- Chúa Giê-su quan tâm đến sự an nguy và lương tâm của dân Ngài. Ngài dặn họ cầu nguyện để không phải chạy trốn vào ngày Sa-bát, hầu cho tâm linh họ được bình an để thờ phượng Ngài ngay cả giữa cơn hoạn nạn.

Tính chất tiên tri –Lời cảnh báo này chứng minh rằng luật pháp của Đức Chúa Trời không bị thay đổi bởi những biến động chính trị hay tôn giáo. Sa-bát vẫn là điểm mốc cho dân sự Chúa cho đến tận cùng thời đại.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *