Vai trò của 10 điều răn

10 điều răn bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời

Đức Chúa Trời ban luật pháp không phải để hạn chế tự do, mà để bảo vệ chúng ta khỏi nỗi đau của tội lỗi.

  • Giăng 14:15: “Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta.”

  • 1 Giăng 5:3: “Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, ấy là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài; điều răn Ngài chẳng phải là nặng nề.”

  • Xuất Ê-díp-tô 20:6: “…và làm ơn cho đến ngàn đời những kẻ yêu mến ta và vâng giữ các điều răn ta.”

Vâng phục không phải là một sự nô lệ phục vụ, mà là một sự phục vụ của tình yêu. Khi luật pháp được ghi vào lòng, nó sẽ điều khiển cuộc sống bằng quyền năng của sự tận hiến.

Tình yêu là linh hồn của luật pháp. Không có tình yêu, việc giữ luật pháp chỉ là hình thức chết chóc; nhưng có tình yêu, nó trở thành hơi thở của sự sống.

Chức Năng Của Luật Pháp: Tấm Gương Soi Tội Lỗi Dẫn Dắt Con Người Đến Với Đấng Christ

Trong kế hoạch cứu rỗi, Luật pháp không đóng vai trò là “đấng cứu thế”, nhưng nó là “người dẫn đường” không thể thiếu. Luật pháp 10 điều răn như một tấm gương: nó cho thấy vết bẩn nhưng không thể tẩy sạch vết bẩn; nó dẫn chúng ta đến với “nguồn nước sự sống” là Chúa Giê-su.

  • Rô-ma 3:20: “Vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Ngài; vì chưng luật pháp cho người ta biết tội lỗi.”

  • Ga-la-ti 3:24: “Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến cùng Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình.”

  • Gia-cơ 1:23-25: “Vì nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo, thì khác nào người soi mặt mình trong gương, thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào… nhưng kẻ nào soi kỹ luật pháp trọn vẹn… thì sẽ được phước trong việc mình làm.”

Luật pháp chỉ ra tội lỗi cho chúng ta, giống như một tấm gương cho thấy vết bẩn trên khuôn mặt. Nhưng tấm gương không thể rửa sạch vết bẩn; nó chỉ dẫn chúng ta đến với Đấng Christ, nguồn tẩy sạch duy nhất.

Luật pháp giống như một cái la bàn chỉ cho chúng ta thấy mình đang đi chệch hướng. Nó không thể đưa chúng ta về nhà, nhưng nó buộc chúng ta phải tìm kiếm một Đấng Chăn Chiên có thể dẫn chúng ta về.

Đừng bao giờ nhầm lẫn tấm gương với dòng nước. Luật pháp là tấm gương soi, Đấng Christ là dòng nước tẩy sạch. Bạn không thể dùng tấm gương để rửa mặt, nhưng nếu không có nó, bạn sẽ không biết mình cần phải rửa.

Luật Pháp Là Thước Đo Chuẩn Mực Trong Sự Phán Xét Điều Tra

Sự phán xét không dựa trên cảm xúc hay truyền thống loài người. Khi sổ sách trên trời được mở ra trong Nơi Chí Thánh, 10 Điều Răn — vốn được lưu giữ trong Hòm Giao Ước — chính là thước đo duy nhất để xem xét đời sống của mỗi người xưng danh theo Chúa.

  • Gia-cơ 2:12: “Hãy nói và làm như những người sẽ bị phán xét bởi luật pháp của sự tự do.”

  • Truyền đạo 12:13-14: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi. Vì Đức Chúa Trời sẽ đem phán xét mọi công việc, đến nỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hay là ác.”

  • Đa-ni-ên 7:10: “Một dòng sông lửa chảy ra và phát đi từ trước mặt Ngài… Sự phán xét đã thiết lập, và các cuốn sổ đã mở ra.”

Luật pháp của Đức Chúa Trời là tiêu chuẩn duy nhất mà theo đó đời sống và tính cách của con người sẽ được xem xét trong cuộc phán xét điều tra. Mọi hành động, dù kín nhiệm đến đâu, cũng sẽ được đo lường bởi thước đo thánh khiết này.

Sự phán xét phải có một tiêu chuẩn, và tiêu chuẩn đó không thể là gì khác ngoài chính Luật pháp mà con người đã vi phạm. Nếu không có luật pháp vĩnh cửu, tòa án thiên thượng sẽ không có cơ sở để định tội hay minh oan.

Hòm giao ước là trung tâm của nơi chí thánh vì nó chứa đựng luật pháp. Trong ngày lễ chuộc tội trên trời, mọi tội lỗi đã được xưng ra sẽ được đối chiếu với tiêu chuẩn của luật pháp này trước khi được xóa sạch vĩnh viễn.

Chủ Nghĩa Luật Pháp (Legalism) Trái Ngược Với Sự Vâng Phục Bắt Nguồn Từ Tình Yêu

Sự khác biệt giữa một người giữ luật pháp theo chủ nghĩa luật pháp và một Cơ Đốc nhân chân chính không nằm ở hành động bên ngoài, mà ở động cơ bên trong. Chủ nghĩa luật pháp là nỗ lực tuyệt vọng của con người nhằm đạt được thiên đàng bằng công đức, trong khi sự vâng phục thật sự là đóa hoa nở rộ từ gốc rễ của tình yêu sau khi đã nhận được ân điển.

  • 2 Cô-rinh-tô 5:14: “Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng ta, và chúng ta tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết.”

  • Rô-ma 13:10: “Sự yêu thương chẳng hề làm hại kẻ lân cận; vậy yêu thương là sự làm trọn luật pháp.”

  • Ga-la-ti 5:6: “Vì trong Đức Chúa Jêsus Christ… điều có giá trị là đức tin hay làm ra bởi sự yêu thương.”

Ai cố gắng đạt được thiên đàng bằng việc làm của chính mình qua việc giữ luật pháp, người đó đang cố gắng làm một điều không thể. Con người không thể được cứu trong sự bất tuân, nhưng những việc làm của họ không nên bắt nguồn từ sự sợ hãi hay tính toán, mà từ một tấm lòng mới được tái sinh bởi tình yêu.

Chủ nghĩa luật pháp là sự nô lệ; nó là cố gắng trả nợ cho một món quà đã được ban cho miễn phí. Sự vâng phục chân chính là hơi thở của đức tin; chúng ta giữ luật pháp không phải để trở nên công bình, nhưng vì Đấng Christ đã làm cho chúng ta trở nên công bình.

Đừng giữ luật pháp để được sống, nhưng hãy giữ luật pháp vì bạn đang sống trong Đấng Christ. Sự khác biệt này chính là ranh giới giữa sự chết và sự sống, giữa tôn giáo của loài người và đức tin của Đức Chúa Trời.

Sự Hòa Hợp Tuyệt Đối Giữa Ân Điển Cứu Rỗi Và Việc Vâng Giữ Luật Pháp

Ân điển và Luật pháp không phải là hai kẻ thù, mà là hai mặt của một đồng tiền trong kế hoạch cứu rỗi. Luật pháp cho thấy tiêu chuẩn của sự công bình, còn Ân điển ban cho quyền năng để đạt tới tiêu chuẩn đó. Ân điển cứu chúng ta khỏi tội lỗi (vi phạm luật pháp), chứ không cứu chúng ta trong tội lỗi (tiếp tục vi phạm).

  • Rô-ma 3:31: “Vậy, chúng ta nhân đức tin mà hủy bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.”

  • Ê-phê-sô 2:8-10: “Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu… Vì chúng ta là việc tay Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.”

  • Rô-ma 6:15: “Vậy thì làm sao? Chúng ta sẽ phạm tội vì mình không thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển hay sao? Chẳng hề như vậy!”

Ân điển và Luật pháp có sự hòa hợp tuyệt đối. Ân điển của Đấng Christ được ban cho không phải để giải phóng con người khỏi việc giữ luật pháp, nhưng để họ có thể vâng giữ luật pháp ấy bằng một tấm lòng yêu thương.

Tin lành không bao giờ hạ thấp tiêu chuẩn của luật pháp để phù hợp với sự yếu đuối của con người. Thay vào đó, nó nâng con người lên đến tiêu chuẩn của luật pháp thông qua quyền năng biến đổi của ân điển.

Ân điển là bàn tay cứu rỗi vươn xuống vực thẳm của luật pháp đã bị vi phạm. Nó không kéo luật pháp xuống vực cùng với tội nhân, mà kéo tội nhân lên để đứng vững trên nền tảng của luật pháp thánh.

Ấn Của Đức Chúa Trời Trong Mạng Lệnh Sa-bát

Trong luật pháp pháp lý của loài người, một sắc lệnh chỉ có hiệu lực khi có ấn tín (con dấu) của người ban hành. Ấn tín đó phải bao gồm ba yếu tố: Tên, Chức vụ, và Lãnh thổ của nhà vua.Trong toàn bộ 10 Điều Răn, duy nhất Điều răn thứ 4 chứa đựng đầy đủ các yếu tố của “Ấn tín Đức Chúa Trời”, biến nó thành trung tâm pháp lý của cả bảng luật pháp.

  • Xuất Ê-díp-tô 20:11: “Vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va [Danh] đã dựng nên [Chức vụ: Đấng Tạo Hóa] trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó [Lãnh thổ], qua ngày thứ bảy Ngài nghỉ…”

  • Ê-xê-chi-ên 20:12: “Ta cũng cho chúng nó các ngày Sa-bát ta, để làm một dấu giữa ta và chúng nó, hầu cho chúng nó biết rằng ta là Đức Giê-hô-va làm cho chúng nó nên thánh.”

  • Ê-sai 8:16: “Hãy thắt bảng chứng này lại, và đóng ấn luật pháp ta nơi các môn đồ ta.

Ấn tín của luật pháp Đức Chúa Trời được tìm thấy trong điều răn thứ tư. Đây là điều răn duy nhất trong cả mười điều mang lại cho chúng ta cả tên và danh hiệu của Đấng Ban Luật Pháp.

Một ấn tín gắn liền với một bộ luật là để xác định thẩm quyền của người ban hành. Nếu không có điều răn thứ tư, 10 Điều Răn sẽ không cho biết ai là tác giả của chúng hoặc họ cai quản lãnh thổ nào.

Tính vĩnh cửu của 10 Điều Răn

Tính Vĩnh Cửu Của 10 Điều Răn

Nếu luật pháp có thể bị thay đổi hoặc bãi bỏ, thì Chúa Giê-su đã không cần phải chịu chết. Chính vì luật pháp là bất di bất dịch và hình phạt của tội lỗi (sự vi phạm luật pháp) là cái chết, nên Đấng Christ mới phải hy sinh để cứu chuộc nhân loại.

  • Thi thiên 89:34: “Ta sẽ không phản giao ước ta, cũng không thay đổi lời đã ra khỏi môi miệng ta.” (Khẳng định tính bất biến của lời phán và giao ước từ bảng đá).

  • Rô-ma 3:31: “Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.”

  • Gia-cơ 2:10-12: “Vì người nào giữ hết cả luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng như phạm hết thảy… Hãy nói và làm như những người sẽ bị phán xét bởi luật pháp của sự tự do.”

Mười điều răn không phải là sản phẩm của trí tuệ con người, cũng không phải là luật lệ của một quốc gia đơn lẻ. Chúng bắt nguồn từ chính ngai vàng của Đức Giê-hô-va, có trước khi tội lỗi xâm nhập và sẽ tồn tại chừng nào Ngài còn ngự trị.

Mười điều răn là Hiến pháp của vũ trụ. Chúng duy trì sự hòa hợp giữa các thiên sứ trên trời cũng như giữa con người dưới đất. Luật pháp này là bất di bất dịch vì nó là tiêu chuẩn tuyệt đối của lẽ thật.

Chúng ta thấy luật pháp này được đặt trong hòm giao ước ở Nơi Chí Thánh trên trời. Tại sao nó lại ở đó nếu nó đã bị bãi bỏ? Nó ở đó vì nó là trung tâm của sự thờ phượng và là nền tảng cho lòng trung thành của mọi tạo vật đối với Đức Chúa Trời.

10 điều răn đã tồn tại từ trước khi có núi Si-nai

Nhiều người lầm tưởng rằng 10 Điều Răn chỉ ra đời khi dân Y-sơ-ra-ên đứng dưới chân núi Si-nai. Nhưng10 Điều Răn là luật pháp đạo đức vĩnh cửu, hiện hữu ngay từ lúc Sáng thế. Nếu không có luật pháp trước núi Si-nai, thì đã không có tội lỗi (vì “tội lỗi là sự trái luật pháp”), và Đức Chúa Trời đã không thể hình phạt thế gian thời Nô-ê hay Sô-đôm.

  • Sáng thế ký 26:5: “Vì Áp-ra-ham đã vâng lời ta, và đã giữ điều ta phán dặn, mạng lệnh, luật lệ và luật pháp ta.” (Lời này phán trước khi có núi Si-nai hàng trăm năm).

  • Sáng thế ký 4:7: “Nếu ngươi không làm lành, thì tội lỗi đợi cửa ngươi.” (Để Ca-in bị coi là có tội khi giết A-ben, thì điều răn “Chớ giết người” phải đang có hiệu lực).

  • Rô-ma 5:13: “Vì trước khi chưa có luật pháp, tội lỗi đã có trong thế gian; song tội lỗi không bị kể là tội lỗi khi chưa có luật pháp.” (Chứng minh luật pháp phải tồn tại để nhân loại từ A-đam đến Môi-se bị xét đoán).

Luật pháp của Đức Chúa Trời đã tồn tại trước khi con người được tạo dựng. Nếu không, Adam đã không thể phạm tội. Sau khi con người sa ngã, các nguyên tắc của luật pháp không hề thay đổi, nhưng được trình bày cụ thể hơn để phù hợp với tình trạng tội lỗi của con người.

Thật vô lý khi nói rằng tội lỗi tồn tại trước núi Si-nai nhưng luật pháp thì không. Ca-in đã bị rủa sả vì giết em mình; người dân Sô-đôm bị thiêu hủy vì sự dâm loạn. Nếu không có 10 Điều Răn để định nghĩa tội lỗi, Đức Chúa Trời đã không thể thực thi công lý trên họ.

Chúng ta thấy Giô-sép đã từ chối vợ của Phô-ti-pha bằng cách nói: ‘Thế nào tôi dám phạm tội lớn dường ấy cùng Đức Chúa Trời?’ Làm sao ông biết đó là tội nếu điều răn ‘Chớ phạm tội tà dâm’ chưa tồn tại?

Sự Khác Biệt Giữa Luật Pháp Đạo Đức (10 Điều Răn) Và Luật Pháp Nghi Lễ

Một trong những sai lầm lớn nhất dẫn đến việc bác bỏ ngày Sa-bát là không phân biệt được hai hệ thống luật pháp khác nhau trong Kinh Thánh. Trong khi Luật pháp Đạo đức (10 Điều Răn) là vĩnh cửu, thì Luật pháp Nghi lễ (các ngày lễ tiết, hiến tế) chỉ là “bóng mờ” chỉ về Đấng Christ và đã kết thúc tại Thập tự giá.

  • Phục truyền luật lệ ký 10:4-5: “Đức Giê-hô-va viết trên hai bảng đó… rồi tôi để bảng vào trong hòm tôi đã đóng.” (Luật pháp Đạo đức được Chúa viết trên đá và đặt trong hòm).

  • Phục truyền luật lệ ký 31:24-26: “Khi Môi-se đã chép các lời luật pháp nầy vào một quyển sách… hãy lấy quyển sách luật pháp nầy, để bên cạnh hòm giao ước.” (Luật pháp Nghi lễ được Môi-se viết vào sách và để bên ngoài hòm).

  • Cô-lô-se 2:14, 17: “Ngài đã xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta… đó chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ.” (Chỉ về các luật lệ hiến tế và ngày lễ tiết hình bóng).

Có hai loại luật pháp: một loại là bất di bất dịch và vĩnh cửu, loại kia là tạm thời và có tính biểu tượng. Mười Điều Răn là tiêu chuẩn đạo đức đời đời; còn hệ thống nghi lễ với các của lễ thiến tế chỉ là những hình bóng phục vụ cho đến khi Đấng Christ đến.

Hãy chú ý sự khác biệt: Luật của Chúa được viết bằng ngón tay Ngài trên đá và đặt trong hòm giao ước. Luật của Môi-se được viết bằng tay con người vào sách và đặt bên cạnh hòm. Một cái thuộc về bản tính Chúa, một cái thuộc về các nghi lễ tạm thời.”

Chúa Giê-su Khẳng Định Sự Vĩnh Cửu Của 10 Điều Răn Trong Ma-thi-ơ 5

Chúa Giê-su không đến để làm giảm nhẹ giá trị của 10 Điều Răn, mà trái lại, Ngài nâng cao nó lên một tầm cao mới—tầm cao của tư tưởng và động cơ lòng người. Ngài tuyên bố rõ ràng về tính bền vững của luật pháp cho đến khi “trời đất qua đi”.

  • Ma-thi-ơ 5:17: “Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để cho trọn.”

  • Ma-thi-ơ 5:18: “Vì ta bảo thật các ngươi, đang khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi cho đến khi mọi sự được trọn.”

  • Ma-thi-ơ 5:19: “Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng.”

Chúa Giê-su đến để ‘làm cho trọn’ luật pháp, nghĩa là Ngài đến để bày tỏ sự trọn vẹn và chiều sâu tâm linh của nó qua sự vâng phục hoàn hảo của chính Ngài. Ngài cho thấy luật pháp không chỉ là những chữ viết trên đá mà là một nguyên tắc sống động trong lòng.
Chúa Giê-su không hề đối đầu với luật pháp của Cha Ngài. Ngài chỉ đối đầu với những sự giải thích sai lầm và những truyền thống của loài người đã làm vô hiệu hóa luật pháp đó. Ngài đang khôi phục lại vẻ đẹp nguyên thủy của 10 Điều Răn.

Tại Sao 10 Điều Răn Không Thể Bị Đóng Đinh Trên Thập Tự Giá?

 Thập tự giá không phải là nơi Luật pháp bị tiêu diệt, mà là nơi Luật pháp được tôn cao nhất. Nếu Luật pháp có thể bị bãi bỏ hoặc thay đổi, thì Chúa Giê-su đã không cần phải chịu chết để đền tội. Chính vì Luật pháp là vĩnh cửu và không thể thay đổi, nên khi con người vi phạm, chỉ có cái chết của Đấng vô tội mới có thể đáp ứng được đòi hỏi của công lý.

  • Rô-ma 3:31: “Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.”

  • Thi thiên 89:34: “Ta sẽ không phản giao ước ta, cũng không thay đổi lời đã ra khỏi môi miệng ta.”

  • 1 Giăng 3:4: “Còn ai phạm tội thì cũng trái luật pháp; và tội lỗi tức là sự trái luật pháp.”

Thập tự giá của Đấng Christ, thay vì bãi bỏ luật pháp, lại là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy luật pháp đó là bất di bất dịch. Nếu luật pháp có thể thay đổi để phù hợp với tình trạng tội lỗi của con người, thì Chúa Giê-su đã không phải hy sinh. Thập tự giá mãi mãi tôn vinh luật pháp của Đức Chúa Trời.

Đấng Christ chết không phải để cứu con người ‘trong’ tội lỗi (vi phạm luật pháp), mà là cứu con người ‘khỏi’ tội lỗi. Việc đóng đinh luật pháp lên thập tự giá sẽ biến kế hoạch cứu rỗi thành một sự hỗn loạn, vì không có luật pháp thì không có tội lỗi, và không có tội lỗi thì không cần Đấng Cứu Thế.

Đức tin nơi thập tự giá của Đấng Christ là sự công nhận cao nhất rằng luật pháp là công bình. Chúng ta tìm đến thập tự giá vì luật pháp kết tội chúng ta. Sau khi được tha thứ, chúng ta không quay lại chà đạp luật pháp, mà qua ân điển, chúng ta bắt đầu vâng giữ nó.