Sai lầm của giáo lý Ba Ngôi

Mâu thuẫn toán học của giáo lý Ba Ngôi

1 Cô-rinh-tô 8:6 – Chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất là Đức Chúa Cha

“Dầu vậy, về phần chúng ta, chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, là Đức Chúa Cha, muôn vật bởi Ngài mà ra, và chúng ta hướng về Ngài; lại chỉ có một Chúa mà thôi, là Đức Chúa Giê-su Christ, muôn vật nhờ Ngài mà có, và chúng ta cũng nhờ Ngài mà có.”

Sự phi lý khi gộp chung các thân vị làm một  – Nói rằng ba là một, và lại là ba, là một sự phi lý về mặt toán học. Nó giống như nói rằng ba người chỉ là một người, hoặc một người là ba người. Đây không phải là sự dạy dỗ của Kinh Thánh.

Sự mâu thuẫn nếu Cha và Con là một thực thể – Chúa Giê-su kêu gọi đến luật về các nhân chứng. Ngài nói có hai Đấng làm chứng: Chính Ngài và Cha Ngài. Nếu họ là cùng một thân vị hoặc cùng một bản thể không thể chia cắt, thì sẽ chỉ có một nhân chứng. Logic trong lập luận của chính Chúa Giê-su chứng minh rằng Ngài và Cha Ngài là hai thực thể cá nhân riêng biệt.

Nguồn gốc ngoại đạo của giáo lý Ba Ngôi

Cô-lô-se 2:8 – Đừng để bị lừa bởi triết học hư không

“Hãy giữ chừng, kẻo có kẻ lấy triết học và lời hư không, theo lời truyền khẩu của loài người, sơ học của thế gian, không theo Đấng Christ, mà bắt anh em phục chăng.”

Học thuyết Ba Ngôi xuất phát từ thần thoại và ngoại giáo  – Học thuyết Ba Ngôi được đưa vào hội thánh cùng thời điểm với việc thờ lạy hình tượng và giữ ngày Chủ nhật, và nó chỉ là học thuyết của người Ba Tư được tu sửa lại. Phải mất khoảng ba trăm năm để thu thập đủ kiến thức nhằm hình thành học thuyết Ba Ngôi.

Sự thỏa hiệp giữa Cơ Đốc giáo và học thuyết của Plato  – Có một sự thật là học thuyết Ba Ngôi không được tìm thấy trong hội thánh cho đến khi nó được đưa vào bởi những người đã được giáo dục trong trường phái của Plato, những người khi chấp nhận Cơ Đốc giáo đã tìm cách dung hòa những sự dạy dỗ của Kinh Thánh với những quan điểm triết học trước đó của họ. Ý tưởng ‘ba trong một’ là sản phẩm trực tiếp của sự thỏa hiệp này với triết học ngoại giáo.

Sự kế thừa từ Babylon và các tôn giáo cổ đại – Học thuyết Ba Ngôi là một trong những cột trụ của Giáo hội La Mã. Nó được đưa vào hội thánh Cơ Đốc từ các hệ thống triết học và tôn giáo của các quốc gia cổ đại, đặc biệt là từ Babylon và Ai Cập. Đó là một mầu nhiệm có nguồn gốc sâu xa từ sự thờ phượng các thần mặt trời và các vị thần ba ngôi của thế giới ngoại giáo.

Ba Ngôi là học thuyết của Babylon (Giáo hội Công Giáo, Tin –Trong công cuộc cải chánh vĩ đại, nhiều sai lầm đã bị loại bỏ, nhưng một số sai lầm cơ bản nhất, như học thuyết Ba Ngôi và sự bất tử của linh hồn, vẫn được giữ lại. Sứ mệnh của chúng ta là hoàn tất công việc cải chánh bằng cách bác bỏ mọi học thuyết có nguồn gốc từ La Mã thay vì từ Lời Đức Chúa Trời.

Kinh Thánh hoàn toàn không nhắc tới giáo lý Ba Ngôi

Phục truyền 4:2 – Không có gì được thêm vào Lời Đức Chúa Trời

“Các ngươi chớ thêm chi vào lời ta truyền cho, và cũng chớ bớt chi hết.”

Từ Ba Ngôi thậm chí không có trong Kinh Thánh – Sai lầm lớn của những người theo thuyết Ba Ngôi là cố gắng giải thích bản thể của Đức Chúa Trời bằng cách sử dụng các thuật ngữ mà Kinh Thánh không dùng. Họ nói về ‘một Đức Chúa Trời trong ba thân vị’ và ‘bản thể đồng vĩnh cửu’, nhưng bạn sẽ tìm kiếm trong Kinh Thánh vô ích những cụm từ như vậy. Chúng ta nên bám sát ngôn ngữ của Kinh Thánh.

Ba Ngôi mâu thuẫn về sự tự hữu

 Giăng 5:26-27 -Cha đã ban cho Con có sự sống trong mình mình”

“Vì như Cha có sự sống trong mình mình, thì Ngài cũng đã ban cho Con có sự sống trong mình mình vậy. Ngài cũng đã ban quyền cai trị cho Con, vì là Con người.”

Đức Chúa Cha là Đấng duy nhất có sự sống không do ai ban. Ngài đã ban cho Con Ngài có cùng bản chất đó. Nếu Jesus là Đức Chúa Trời tối cao trong khối Ba Ngôi, Ngài đã có sẵn sự sống đó rồi, không cần Cha phải ban cho. Lời của Jesus ở đây đánh đổ hoàn toàn logic đồng đẳng của thuyết Ba Ngôi.

Ba Ngôi dạy rằng Cha và Con ngang hàng về mọi phương diện. Nhưng Jesus nói Cha ban cho Ngài sự sống. Đấng ban cho phải lớn hơn Đấng nhận lãnh về mặt thẩm quyền.

Thuyết Ba Ngôi biến sự hy sinh thành một “Vở kịch”

Rô-ma 5:10 – Chúng ta đã được hòa thuận bởi sự chết của Con Ngài

“Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch, mà đã được hòa thuận với Đức Chúa Trời bởi sự chết của Con Ngài, thì huống chi nay đã hòa thuận rồi, chúng ta sẽ nhờ sự sống của Ngài mà được cứu là dường nào!”

Vở kịch đạo đức –  Học thuyết Ba Ngôi tước bỏ sự chết của Đấng Christ khỏi kế hoạch chuộc tội. Nếu Ngài là Đức Chúa Trời Cha, Ngài không thể chết. Do đó, họ buộc phải nói rằng chỉ có ‘nhân tính’ chết. Nhưng Kinh Thánh nói ‘Con Đức Chúa Trời’ đã chết. Nếu chỉ có một con người chết, sự hy sinh đó không đủ giá trị để cứu rỗi.

Sự ngăn cách thực sự giữa Cha và Con- Cái chết của Đấng Christ không phải là một sự giả vờ. Nếu Ngài là một phần của thực thể Ba Ngôi không thể phân chia, Ngài không bao giờ có thể thực sự nếm trải cái chết. Nhưng vì Ngài là Con được sinh ra, Ngài có thể phó dâng sự sống mà Cha đã ban cho Ngài.

Logic về giá trị tương xứng của Luật pháp Toán học của sự chuộc tội đòi hỏi nạn nhân phải có giá trị tương đương với luật pháp bị vi phạm. Một con người chết là không đủ. Một Đức Chúa Trời Ba Ngôi không thể chết. Chỉ có Con của Đức Chúa Trời mới đáp ứng được logic này.

Giáo lý Ba Ngôi mâu thuẫn về Đấng Cầu Thay

1 Ti-mô-thê 2:5 -Chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Bảo

“Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đấng Christ Giê-su, là người.” (1 Ti-mô-thê 2:5)

Đấng Trung Bảo không thể là chính đối tượng Ngài đang cầu thay Một Đấng Trung Bảo không bao giờ là một phần của thực thể mà Ngài đang thực hiện việc trung gian. Theo định nghĩa, Đấng Trung Bảo phải đứng giữa hai bên. Nếu Chúa Giê-su là chính Đức Chúa Trời tối cao của thuyết Ba Ngôi, thì Ngài đang làm trung bảo cho chính mình. Điều này là một sự phi lý về mặt pháp lý.

Sự tái lâm của Đức Chúa Giê-su

Chúa Giê-su hiện hiện công khai giữa đám mây vinh hiển

Khải huyền 1:7 – Sự hiện hiện công khai giữa đám mây vinh hiển

“Kìa, Ngài đến giữa những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy; hết thảy các chi tộc trên đất đều sẽ vì Ngài mà than khóc. Đúng là như vậy. A-men!”

Sự Tái lâm sẽ thực thể và đích thân như lần thứ nhất. Chính Chúa Giê-su này, Đấng đã được cất lên trời, cũng sẽ đến y như cách ấy. Mọi mắt sẽ thấy Ngài. Không chỉ là con mắt đức tin, mà là con mắt tự nhiên của mọi người đang sống. Sẽ không có gì thầm kín về điều đó. Đó sẽ là một sự bày tỏ vinh quang làm rạng rỡ các tầng trời từ đầu này đến đầu kia.

Bác bỏ thuyết “Cất lên thầm kín” – Khi Chúa đến, Ngài không đến trong một phòng kín hay nơi hoang mạc nào đó để chỉ một vài người nhìn thấy. Ngài đến như chớp, nháy từ phương này sang phương kia của bầu trời. Mọi mắt sẽ trông thấy Ngài. Kẻ ác sẽ thấy Ngài để chịu sự hủy diệt, và người công bình thấy Ngài để hưởng niềm vui đời đời. Không có chỗ nào cho một sự đến thầm kín trong Kinh Thánh.

Ma-thi-ơ 24:23-26- Đừng tin vào những đấng Christ giả trong “phòng kín”

Khi ấy, nếu có ai bảo anh em rằng: ‘Kìa, Đấng Christ ở đây!’ hay là ‘Ngài ở đó!’ thì đừng tin… Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháy đến phương tây, thì sự Con người đến cũng sẽ như vậy.”

Satan sẽ giả mạo Đấng Christ, nhưng hắn sẽ không mang cùng một sứ điệp. Hắn sẽ tuyên bố đã thay đổi luật pháp của Đức Chúa Trời… Nhưng đấng christ giả này sẽ dẫn dắt con người rời xa các điều răn.

Thần tính của Đức Chúa Giê-su

Đức Chúa Giê-su được sinh ra từ trước đời đời

Khẳng định Chúa Giê-su là Con duy nhất được sinh ra (Không phải được tạo ra) từ Đức Chúa Cha trong cõi vĩnh hằng, có cùng bản thể thần linh.

Giăng 3:16 – Chúa Giê-su là con được sinh ra – Không phải Đấng Tự Hữu

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.”

 Một thân vị, một thực thể thực sự, đã được ban cho chúng ta. Chúa Cha đã ban Con một duy nhất của Ngài. Người Con này là hình bóng chính xác về thân vị của Cha Ngài, là sự chói sáng của vinh hiển Ngài. Ngài là Đấng có thể bày tỏ Chúa Cha cho thế gian. Ngài là thực thể duy nhất có thể bước vào mọi hội đồng và mục đích của Đức Chúa Trời. Trong việc ban Ngài, Chúa Cha đã ban tất cả các kho báu của thiên đàng. Không có món quà nào cao quý hơn có thể được ban tặng.

 Ngôn từ ‘Con độc sinh’ ngụ ý rằng Chúa Giê-su là Đấng duy nhất được sinh ra từ Chúa Cha theo một nghĩa mà không một thực thể nào khác có được. Trong khi các thiên sứ được tạo ra, thì Chúa Con được sinh ra. Ngài có cùng bản thể và bản tính như Chúa Cha, sở hữu tất cả các thuộc tính của thần tính nhờ vào nguồn gốc thiên thượng của Ngài. Ngài không phải là một thực thể được tạo ra, mà là Con của Đức Chúa Trời hằng sống, hiện hữu cùng Chúa Cha trước khi thế gian hình thành.

Châm ngôn 8:22-24 – Chúa Giê-su được sinh ra 

Trong buổi đầu của công việc Ngài, trước khi dựng nên những vật xưa nhất, Đức Giê-hô-va đã có ta.Ta đã được lập lên từ đời đời, từ trước vô cùng, trước khi có thế gian.Ta được sinh ra khi chưa có các vực thẳm, khi chưa có những nguồn nước dồi dào.”

 Sự Khôn Ngoan trong Châm ngôn 8 là sự nhân hóa của Con Đức Chúa Trời. Ngài đã được ‘sinh ra’ trước khi bất kỳ vật thọ tạo nào tồn tại. Sự ‘sinh ra’ này đánh dấu Chúa Con là riêng biệt với Chúa Cha về nhân cách, nhưng đồng nhất về bản tính. Ngài là cái đầu của mọi sự sáng tạo, đã được Chúa Cha sinh ra trong cõi vĩnh hằng xa xăm của quá khứ.

Chúa Con đã được sinh ra từ Chúa Cha. Ngài không phải được tạo ra. Đã có một thời điểm khi Đấng Christ phát xuất và đến từ Đức Chúa Trời, từ lòng của Chúa Cha, nhưng thời điểm đó đã quá xa xôi trong những ngày của cõi đời đời đến nỗi đối với sự hiểu biết hữu hạn, nó thực tế là không có bắt đầu. Ngài thuộc về chính bản thể của Đức Chúa Trời, và có tất cả các thuộc tính của Đức Chúa Trời.

Mi-chê 5:1 – Chúa Giê-su không phải Đấng Tự Hữu nhưng Ngài có từ trước vô cùng không ai biêt được

“Gốc tích của Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng.”

 Chúa Giê-su Christ, Con thần thượng của Đức Chúa Trời, đã hiện hữu từ cõi đời đời, một thân vị riêng biệt, nhưng là một với Chúa Cha. Ngài là vinh hiển vượt trội của thiên đàng. Ngài là vị chỉ huy của các trí tuệ thiên thượng, và sự tôn kính thờ phượng của các thiên sứ đã được Ngài tiếp nhận một cách chính đáng. Đây không phải là sự chiếm đoạt của Đức Chúa Trời.

Điều này phân biệt Ngài với tất cả các vật thọ tạo. Ngài là Chúa Con đời đời vì Ngài phát xuất từ Chúa Cha đời đời. Thần tính của Ngài không phải là thứ Ngài được ban cho, mà là thứ Ngài sở hữu theo bản tính với tư cách là Đấng được sinh ra từ Chúa Cha.

Nguồn gốc của Chúa Con là ở nơi Chúa Cha. Gốc tích của Ngài đã có từ đời xưa, từ những ngày của cõi đời đời. Điều này không làm cho Ngài trở thành một vật thọ tạo, vì Ngài đi ra từ chính bản thể của Chúa Cha. Ngài là Đạo đã ở cùng Đức Chúa Trời. Chừng nào Chúa Cha còn tồn tại, thì tiềm năng cho Chúa Con đã tồn tại, và việc Ngài thực sự được sinh ra là trước mọi thời gian và sự sáng tạo.

Chúa Giê-su mang trọn vẹn bản chất của Đức Chúa Trời

Cô-lô-se 2:9 – Bản chất của Đức Chúa Trời được thể hiện trong Đức Chúa Giê-su

“Vì sự đầy dẫy của bản tính Đức Chúa Trời đều ở trong Ngài có hình xác.”

Trong Đấng Christ hội tụ tất cả vinh hiển của Chúa Cha. Trong Ngài có sự đầy dẫy của bản tính Đức Chúa Trời bằng hình xác. Vinh quang của các thuộc tính của Đức Chúa Trời được thể hiện trong tính cách của Ngài. Tin Lành vinh hiển vì nó được tạo nên từ sự công bình của Đấng Christ. Đó là Đấng Christ được bày tỏ, Đấng Christ được nhân hóa.

Giăng 1:1 – Con Đức Chúa Trời

“Ban đầu có Lời, Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Lời hoàn toàn là Đức Chúa Trời về mặt bản chất”

 Thế gian được dựng nên bởi Ngài. Nếu Đấng Christ làm nên muôn vật, Ngài đã hiện hữu trước muôn vật. Những lời nói liên quan đến điều này chắc chắn đến mức không ai cần phải nghi ngờ.

 Điều này không phải vì Ngài là Chúa Cha, nhưng vì Ngài có cùng bản tính với Chúa Cha. Giống như con của một người là một con người, Con của Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời. Ngài sở hữu bản tính thần linh theo quyền thừa kế từ Cha Ngài.

Ngài không phải là một vật thọ tạo, mà là Đấng Tạo Hóa. Ngài thuộc về chính bản thể của Chúa Cha. Là Con Đức Chúa Trời có nghĩa là mang cùng bản tính như Đức Chúa Trời.

Chúa Giê-su được gọi là Đức Chúa Trời nhưng không phải là Đức Chúa Trời theo nghĩa đen

Hê-bơ-rơ 1:8 – Chúa Cha đã tôn vinh Chúa Giê-su

“Nhưng nói về Con thì phán rằng: Hỡi Đức Chúa Trời, ngai Chúa còn mãi đời đời.”

 Chúa Cha nói với Chúa Con: ‘Hỡi Đức Chúa Trời, ngai Chúa còn mãi đời đời.’ Chúa Cha đã tôn vinh Chúa Giê-su bằng cách cho Ngài một chỗ ngồi trên ngai của Ngài. Điều này cho thấy Chúa Con xứng đáng với sự thờ phượng thần thượng và Ngài sở hữu cùng một bản tính đời đời như Chúa Cha. Vương quốc của Ngài là vương quốc đời đời.

 Khi Chúa Cha gọi Chúa Con là ‘Đức Chúa Trời’, đó là lời chứng cao nhất về thần tính của Ngài. Đó không phải là một danh hiệu được ban cho theo nghĩa bóng, mà là sự công nhận bản tính thực sự của Ngài. Chúa Con ngồi trên ngai với Chúa Cha, chia sẻ vinh hiển và sự cai trị đời đời của Ngài trên tất cả các vật thọ tạo.

Điều này thiết lập quyền của Chúa Con đối với danh xưng thần thượng và vinh dự thần thượng. Ngài không phải là một đại lý được tạo ra, mà là Chúa Con thần thượng chia sẻ ngai vàng của Chúa Cha. Thẩm quyền của Ngài là tuyệt đối vì bản tính của Ngài là thần linh, được bắt nguồn từ Chúa Cha. Đối với Chúa Con, danh hiệu ‘Đức Chúa Trời’ thuộc về Ngài nhờ vào mối quan hệ là Con một được sinh ra.

Ê-sai 9:5 Chúa Giê-su được ban danh hiệu là Đức Chúa Trời

“Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, Đấng Mưu luận, Đức Chúa Trời Quyền năng, Cha Đời đời, Chúa Bình an.

 Danh của Đấng Christ là ‘Đức Chúa Trời quyền năng.’ Con trẻ sinh tại Bết-lê-hem này là Vua Vinh Hiển. Ngài là Đấng sẽ bày tỏ Chúa Cha cho thế gian. Mặc dù Ngài mang lấy hình tôi tớ, bản tính thần linh của Ngài vẫn còn đó. Ngài là Đức Chúa Trời quyền năng vì tất cả quyền năng của Chúa Cha ở trong Ngài. Ngài là mối liên kết ràng buộc nhân loại sa ngã với Đức Chúa Trời vô hạn.

 Ê-sai gọi Chúa Con được hứa ban là ‘Đức Chúa Trời quyền năng.’ Điều này không có nghĩa Ngài là Chúa Cha, vì văn bản nói một Chúa Giê-su được ban cho. Nhưng nó có nghĩa là Chúa Giê-su được mặc lấy quyền năng của Chúa Cha và mang danh của Chúa Cha. Ngài có quyền năng để cứu rỗi vì Ngài mang tính thần linh. Danh hiệu ‘Cha đời đời’ trong ngữ cảnh này ám chỉ vai trò của Ngài là tác giả của sự sống đời đời cho tất cả những ai vâng phục Ngài.

Thần tính trong Nhân tính của Đức Chúa Giê-su

Giăng 1:14 – Bản chất của Đức Chúa Trời trong xác thịt loài người

“Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha.”

Trong Đấng Christ có sự hiệp nhất giữa thần tính và nhân tính. Ngài là Con Đức Chúa Trời và là Con người. Ngài là Đức Chúa Trời, tuy nhiên Ngài đã mang lấy bản tính của con người. Ngài là Lời trở nên xác thịt. Sự hiệp nhất này là một mầu nhiệm sẽ là đề tài nghiên cứu của những người được chuộc suốt cõi đời đời. Ngài đã chạm đến vực thẳm của nỗi khổ đau nhân loại trong khi vẫn là một với Chúa Cha.

Đấng Christ đã mang lấy bản tính của chúng ta để Ngài có thể chạm đến chúng ta nơi chúng ta đang ở. Ngài hoàn toàn mang bản chất Đức Chúa Trời khi Ngài trở thành người, nhưng Ngài đã che phủ thần tính của Ngài bằng nhân tính. Ngài là chiếc cầu nối giữa trời và đất. Trong thân vị Ngài, cái vô hạn và cái hữu hạn gặp nhau, để Ngài có thể đại diện Đức Chúa Trời cho con người và con người cho Đức Chúa Trời.

Ngài đã mang lấy chính bản tính mà chúng ta có, với tất cả những yếu đuối và cám dỗ, nhưng không có tội lỗi. Đồng thời, Ngài là Con Đức Chúa Trời. Bản tính lưỡng hợp này cho phép Ngài trở thành Đấng Cứu Thế hoàn hảo, có quyền năng của Đức Chúa Trời và sự cảm thông của con người.

Phi-líp 2:6-7

“Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người.”

 Đấng Christ không coi sự ngang hàng với Đức Chúa Trời là điều phải nắm giữ. Ngài đã sẵn lòng gạt bỏ vinh hiển và vương miện hoàng gia của mình để trở thành một tôi tớ vì lợi ích của chúng ta. Ngài đã bước xuống từ ngai vàng của vũ trụ đến máng cỏ Bết-lê-hem. Đây là một hành động hạ mình vô hạn. Ngài vẫn là Đức Chúa Trời, nhưng Ngài sống như một con người giữa loài người.

 Sự khiêm nhường của Đấng Christ được thấy trong việc Ngài mang hình tôi tớ. Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, nhưng Ngài không bám giữ các quyền thần thượng của mình. Ngài đã trở thành một con người để chết cho chúng ta. Điều này cho thấy Con Đức Chúa Trời riêng biệt với Chúa Cha, vì Chúa Cha không trở thành người hay chịu chết. Chỉ một mình Chúa Con mang bản tính lưỡng hợp này để hoàn thành sự cứu rỗi của chúng ta.

Rô-ma 1:3-4

“Về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra, theo thần linh thánh khiết thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được xưng là Con Đức Chúa Trời có quyền phép.

 Hai bản tính của Đấng Christ được trình bày rõ ràng trong sách Ro-ma. Ngài là Con vua Đa-vít và là Con Đức Chúa Trời. Với tư cách là Con vua Đa-vít, Ngài đã chịu khổ và chịu chết. Với tư cách là Con Đức Chúa Trời, Ngài đã được Thánh Linh làm cho sống lại. Ngài phải là người để chịu khổ vì tội lỗi con người, và Ngài phải là Đức Chúa Trời để có công đức đáp ứng các đòi hỏi của luật pháp

Đức Chúa Giê-su thợ cái trong công cuộc sáng tạo

Giăng 1:3 -Muôn vật bởi Ngài mà có

“Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.

Chúa Cha đã bàn thảo với Chúa Giê-su trong việc tạo dựng con người. ‘Chúng ta hãy dựng nên loài người như hình ta.’ Chúa Con là tác nhân hoạt động trong việc tạo dựng muôn vật. Trong công việc này, Chúa Cha và Chúa Giê-su đã hiệp nhất. Chúa Giê-su, vì là hình bóng chính xác của Chúa Cha, là Đấng mà qua đó Chúa Cha đã đưa vũ trụ vào sự tồn tại.

Cô-lô-se 1:16-17 – Muôn vật đứng vững trong Ngài

“Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả. Ngài có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong Ngài.”

 Đấng Christ là Đấng duy trì muôn vật bởi lời quyền năng của Ngài. Ngài không chỉ tạo dựng thế gian rồi mặc kệ nó. Mỗi định luật tự nhiên chỉ là sự hoạt động không ngừng của năng lượng thần thượng của Ngài. Nếu Ngài rút tay lại dù chỉ một khoảnh khắc, vũ trụ sẽ chìm vào hỗn loạn.

Sự hạ mình của Đức Chúa Giê-su

Phi-líp 2:6-7 – Sự gạt bỏ vương miện và áo bào hoàng gia 

“Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người.”

 Sự hạ mình tuyệt đối  – Đấng Christ là Chỉ huy của toàn thể đạo binh thiên thượng. Ngài ngang hàng với Đức Chúa Trời, vô hạn và toàn năng. Nhưng Ngài đã gạt bỏ vương miện hoàng gia và áo bào nhà vua của mình, bước xuống từ vị trí chỉ huy cao trọng để mang lấy hình tôi tớ. Ngài đã che phủ thần tính của mình bằng nhân tính, để Ngài có thể chạm đến nhân loại sa ngã.

Thần tính chói lòa bị che phủ bởi bức màn xác thịt  -Đấng Christ, Đấng tạo dựng muôn vật, đã trở thành một con người. Ngài mang lấy bản tính của chúng ta, với tất cả những yếu đuối của nó. Ngài đã gạt bỏ vinh quang bên ngoài của bản thể Đức Chúa Trời, và xuất hiện trong sự giống như xác thịt tội lỗi. Đây là một mầu nhiệm của sự hạ mình mà không tâm trí hữu hạn nào có thể thấu hiểu hết được.

2 Cô-rinh-tô 8:9 -Từ Đấng tạo hóa trở thành con trai người thợ mộc  

“Vì anh em biết ơn của Chúa Giê-su Christ chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được trở nên giàu.”

Đấng vốn là Đấng Tạo Hóa của các thế giới, Đấng mà trong Ngài có sự đầy dẫy của bản thể Đức Chúa Trời, đã được tìm thấy trong hình dáng như một con người, và vì chúng ta, Ngài đã trở nên nghèo khó. Ngài không có nơi gối đầu. Sự giàu sang của thiên đàng thuộc về Ngài, tuy nhiên Ngài đã chọn sự nghèo khó để chúng ta có được sự giàu có đời đời.

Sự trao đổi vinh quang lấy sự sỉ nhụcSự giàu có của Đấng Christ là những kho báu của cõi đời đời. Khi trở nên nghèo khó, Ngài không chỉ mất đi tiền bạc, mà Ngài còn mất đi môi trường của thiên đàng. Ngài đổi sự hiện diện của các thiên sứ thánh khiết lấy xã hội của những con người tội lỗi, và đổi bầu không khí ánh sáng lấy bóng tối của thế gian này.”

Đức Chúa Trời là Ai?

Đức Chúa Trời có thân vị ( hình ảnh ) không ?

Hê-bơ-rơ 1:3 – Bổn thể của Đức Chúa Trời

“Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài, lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật; sau khi Con làm xong sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao,”

Lời chứng này mang tính quyết định. Nó khẳng định rằng Đức Chúa Trời là một thân vị (person), và Đức Chúa Con là hình bóng chính xác của thân vị Ngài. Nhưng ý tưởng về một thân vị mà không có hình thể (form) là điều phi lý. Do đó, chúng ta kết luận rằng Đức Chúa Trời là một thân vị, và Ngài có hình thể. Chúng ta quay lại chương đầu tiên của sách Sáng-thế Ký, và ở đó chúng ta thấy con người được tạo dựng theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời.

Đa-ni-ên 7:9 – Hình ảnh Đấng Thượng Cổ trên Ngai

“Ta nhìn xem cho đến chừng các ngôi đã đặt, và có Đấng Thượng cổ ngồi ở trên. Áo Ngài trắng như tuyết, và tóc trên đầu Ngài như lông chiên sạch; ngôi Ngài là những ngọn lửa, và các bánh xe là lửa hừng.”

Đấng Thượng Cổ, Đức Chúa Cha, ngự trên ngôi phán xét. Hãy chú ý đến sự mô tả về bổn thể (person) của Ngài. Những ai tin vào sự phi vật chất (immateriality) của Đức Chúa Trời, khó lòng có thể bỏ qua một sự mô tả như thế này mà không cảm thấy e ngại, nếu họ cẩn thận suy ngẫm về nó. Nơi đây có sự hiện diện của Đấng Tối Cao của vũ trụ, không phải là một tinh túy bàng bạc khắp nơi, không phải là một thực thể không có hình thể hay các bộ phận, mà là một Thân vị, Đấng trong tất cả sự oai nghi của vinh quang không thể đến gần, đang chủ tọa với tư cách là Quan Án tại phiên tòa vĩ đại.

Sáng-thế Ký 2:7 (kết hợp 1:26) – Hơi thở từ một Thân vị

“Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.”

 Trong sự sáng tạo nên con người, quyền tác động của một Đức Chúa Trời có thân vị (a personal God) đã được bày tỏ. Khi Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người theo ảnh tượng của Ngài, hình thể con người đã hoàn hảo trong mọi sự sắp xếp của nó, nhưng lại không có sự sống. Sau đó, một Đức Chúa Trời có thân vị, tự hữu đã hà sinh khí vào hình thể đó, và con người trở thành một sinh vật hằng sống, có trí tuệ. Tất cả các bộ phận của cơ thể con người được đưa vào hoạt động. Trái tim, động mạch, tĩnh mạch, lưỡi, tay, chân, các giác quan, các chức năng của tâm trí, tất cả đều bắt đầu công việc của chúng, và tất cả đều được đặt dưới luật pháp. Con người trở thành một linh hồn sống. Thông qua Đấng Christ là Ngôi Lời, một Đức Chúa Trời có thân vị đã tạo dựng con người và ban cho người đó trí tuệ và quyền năng.

Đức Chúa Trời là Đấng Tự Hữu

Thi-thiên 36:9 (Khẳng định Đức Giê-hô-va là suối nguồn sự sống):

“Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa; Trong ánh sáng Chúa chúng tôi thấy sự sáng.”

1 Cô-rinh-tô 8:6 (Phân định rõ ràng Cha là “Nguồn”, Con là “Kênh”):

“Nhưng về phần chúng ta, chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, là Đức Chúa Cha, muôn vật bởi Ngài mà ra, và chúng ta hướng về Ngài; lại chỉ có một Chúa mà thôi, là Đức Chúa Giê-xu Christ, muôn vật đều nhờ Ngài mà có, và chúng ta cũng vậy.”

Đức Chúa Trời là nguồn sự sống, ánh sáng và niềm vui cho toàn vũ trụ. Giống như những tia sáng tỏa ra từ mặt trời, giống như những dòng nước tuôn trào từ một suối nguồn hằng sống, các phước hạnh tuôn đổ từ Ngài đến tất cả các tạo vật của Ngài. Và bất cứ nơi nào sự sống của Đức Chúa Trời ngự trị trong lòng con người, sự sống đó sẽ tuôn tràn đến những người khác qua tình yêu thương và sự ban phước.

 Mọi điều Đấng Christ nhận được từ Đức Chúa Trời, Ngài đều nhận lấy để ban cho. Trong các hành lang trên trời cũng vậy, trong chức vụ của Ngài dành cho mọi loài thọ tạo: thông qua Người Con yêu dấu, sự sống của Đức Chúa Cha tuôn tràn đến tất cả; rồi thông qua Đức Chúa Con, sự sống ấy quay trở lại, trong sự ngợi khen và phục vụ vui mừng, như một dòng triều của tình yêu thương, hướng về Nguồn Cội vĩ đại của muôn loài. Và như thế, thông qua Đấng Christ, vòng tuần hoàn của ân sủng được trọn vẹn, bày tỏ bản tính của Đấng Ban Cho vĩ đại, cũng là luật pháp của sự sống.

 Đức Chúa Trời là nguồn sự sống, ánh sáng và niềm vui cho toàn vũ trụ. Giống như những tia sáng tỏa ra từ mặt trời, giống như những dòng nước tuôn trào từ một suối nguồn hằng sống, các phước hạnh tuôn đổ từ Ngài đến tất cả các tạo vật của Ngài. Và bất cứ nơi nào sự sống của Đức Chúa Trời ngự trị trong lòng con người, sự sống đó sẽ tuôn tràn đến những người khác qua tình yêu thương và sự ban phước.

Thời gian diễn ra ngày Sabbath

Nguyên tắc tối có trước sáng có sau

Sai lầm căn bản và dễ nhận thấy nhất của WMSCOG chính là việc họ bắt đầu ngày Sa-bát vào sáng Thứ Bảy. Điều này cho thấy tổ chức này đang đi theo lịch dương (La Mã) của con người thay vì nhịp điệu thời gian mà Đức Chúa Trời đã thiết lập từ khi sáng thế.

Sáng-thế ký 1:5 (Trật tự thời gian sáng tạo)

“Đức Chúa Trời đặt tên sáng là ngày, tối là đêm. Vậy, có buổi chiềubuổi mai; ấy là ngày thứ nhất.”

 Ngày bắt đầu với buổi chiều, bởi vì bóng tối có trước, và ánh sáng được gọi ra từ bóng tối. Bắt đầu ngày Sa-bát vào buổi sáng là phớt lờ chính trật tự sáng tạo được thiết lập bởi chính Đức Giê-hô-va.

Ngày của Đức Chúa Trời bắt đầu lúc mặt trời lặn. Đây là quy tắc duy nhất của Kinh Thánh. Bất kỳ thời điểm nào khác, dù là nửa đêm hay buổi sáng, đều là sự phát minh của con người, thuộc về vương quốc của thế gian này chứ không phải vương quốc của Đức Chúa Trời.

Lê-vi ký 23:32 (Mệnh lệnh pháp định cho ngày thánh):

 “Ấy sẽ là một ngày Sa-bát, một ngày nghỉ cho các ngươi; các ngươi phải ép linh hồn mình. Từ chiều tối ngày thứ chín tháng đó, từ chiều tối này đến chiều tối kia, các ngươi phải giữ ngày Sa-bát mình.

Kim đồng hồ của Đấng Tạo Hóa – Mặt trời lặn là kim đồng hồ của Thiên Đàng, là dấu hiệu phổ quát cho mọi dân tộc ở mọi nơi trên địa cầu. Việc Hội Thánh Mẹ giữ lễ theo giờ hành chính 9 giờ sáng là họ đang tôn kính đồng hồ của con người và luật lệ của tổ chức hơn là quy luật vĩnh cửu của vũ trụ do Đức Giê-hô-va thiết lập.

Nê-hê-mi 13:19 (Thực hành ranh giới thời gian):

“Vừa khi bóng tối trải trên các cửa thành Giê-ru-sa-lem trước ngày Sa-bát, thì tôi biểu đóng các cửa lại, và dặn rằng đừng mở ra cho đến sau ngày Sa-bát.”

Vạch trần lịch La Mã – Lịch của thế gian bắt đầu từ nửa đêm hoặc sáng sớm, đó là lịch của sự lộn xộn. Lịch của Đấng Tạo Hóa bắt đầu bằng sự nghỉ ngơi của buổi tối. WMSCOG và các giáo phái tự xưng khác thường bắt đầu muộn vì họ muốn giảm bớt sự hy sinh của tín đồ đối với công việc thế gian.

Kinh Thánh không bao giờ bắt đầu một ngày vào buổi sáng. Đức Chúa Trời đã dùng chính hiện tượng mặt trời lặn làm dấu hiệu tự nhiên… Việc bắt đầu Sa-bát vào buổi sáng là sự thỏa hiệp với lịch của thế gian và lịch của Giáo hội La Mã.

Các cửa thành được đóng ‘trước ngày Sa-bát’. Điều này chứng minh rằng bóng tối đi trước ngày thứ bảy là một phần của chính ngày Sa-bát. Nê-hê-mi đã không cho phép việc buôn bán của thế gian diễn ra trong suốt những giờ chiều tối đó.

Các môn đồ giữ ngày Sabbath từ thời điểm nào

Mác 1:32 (Biết rõ ranh giới kết thúc ngày thánh)

“Đến chiều, lúc mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ bịnh và kẻ bị quỉ ám đến cùng Ngài.”

Sự xác nhận ranh giới mặt trời lặn – Sự kết thúc của ngày Sa-bát được đánh dấu một cách rõ ràng bằng mặt trời lặn. Người dân thành Ca-bê-na-um tụ tập quanh nhà của Phi-e-rơ, mang những người bệnh của họ đến để được chữa lành, nhưng họ đã nghiêm ngặt chờ đợi cho đến khi mặt trời lặn trước khi họ mang những người đó đến, e rằng họ sẽ phá vỡ điều răn của ngày Sa-bát. Hồ sơ lịch sử này cho thấy ranh giới mặt trời lặn đã được cố định vững chắc như thế nào trong tâm trí của người Do Thái và các môn đồ thời kỳ đầu của Chúa chúng ta.

Tại sao họ lại đợi cho đến lúc mặt trời lặn? Bởi vì ngày Sa-bát đã kết thúc vào chính khoảnh khắc đó, và họ cảm thấy đó là một sự vi phạm trực tiếp đối với ngày đó nếu mang người bệnh của họ đến trong suốt những giờ thiêng liêng của nó. Chỉ riêng phân đoạn này đã đứng vững như một lập luận không thể trả lời được rằng ngày Sa-bát kết thúc vào lúc mặt trời lặn

Vạch trần “Đồng hồ hành chính”

 Vạch trần Đồng hồ hành chính –  Điều răn nói rằng ‘từ chiều tối đến chiều tối.’ Đây là một quy lệ vĩnh cửu. Bất kỳ tổ chức nào bắt buộc một giờ buổi sáng cụ thể, như chín giờ, làm điểm bắt đầu cho sự nghỉ ngơi Sa-bát, là đang thay thế các điều răn của Đức Chúa Trời bằng những truyền thống của con người. Họ đi theo phương pháp tính thời gian của La Mã, thuộc về quyền lực định ý thay đổi thì giờ và luật pháp. Mặt trời lặn là điểm bắt đầu hợp pháp duy nhất cho ngày Sa-bát tại tòa án của Thiên Đàng.

Huớng dẫn giữ ngày Sabbath vui vẻ phước hạnh

“Ngày Sửa Soạn” (Thứ Sáu) – Bảo vệ ranh giới của sự Thánh khiết

Thứ Sáu không chỉ là một ngày làm việc bình thường; nó được biệt riêng làm “Ngày Sửa Soạn”. Sự thất bại trong việc chuẩn bị vào ngày thứ Sáu chính là nguyên nhân lớn nhất khiến tín hữu không nhận được phước hạnh trọn vẹn của ngày Sa-bát.

  • Xuất Ê-díp-tô Ký 16:22-24 (Bối cảnh phép lạ Ma-na):

    “Đến ngày thứ sáu, dân sự lượm lương thực gấp hai, mỗi người được hai ô-me. Các lờ-vờ của hội chúng đến thuật lại cho Môi-se. Người nói rằng: Ấy là điều Đức Giê-hô-va đã phán: Mai là ngày nghỉ, tức là ngày Sa-bát thánh của Đức Giê-hô-va. Hãy hấp bánh nào các ngươi muốn hấp, hãy nấu món nào các ngươi muốn nấu; còn dư bao nhiêu, hãy để dành đến sáng mai. Vậy, dân sự để dành cho đến sáng mai, y như lời Môi-se đã dặn, chẳng có mùi hôi, và cũng chẳng có sâu mọt tí nào.”

  • Lu-ca 23:54-56 (Gương mẫu của các môn đồ sau khi Chúa chịu đóng đinh):

    “Bấy giờ là ngày Sửa soạn, và ngày Sa-bát gần tới. Các người đàn bà đã theo Đức Chúa Giê-su từ xứ Ga-li-lê, cũng đi theo Giô-sép, xem mả và xác Ngài đặt ra sao. Khi trở về, họ sắm sửa thuốc thơm và dầu thông; rồi trong ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo điều răn.”

  • Nê-hê-mi 13:19 (Thiết lập ranh giới thời gian):

    “Vừa khi bóng tối trải trên các cửa thành Giê-ru-sa-lem trước ngày Sa-bát, thì tôi biểu đóng các cửa lại, và dặn rằng không được mở ra cho đến sau ngày Sa-bát. Tôi cũng đặt mấy đứa đầy tớ tôi canh giữ tại các cửa, để không có gánh hàng nào được đem vào trong ngày Sa-bát.”

Chuẩn bị toàn diện – Vào ngày thứ Sáu, hãy để mọi việc chuẩn bị được hoàn tất. Hãy quét sạch bụi bẩn, giặt giũ quần áo, chuẩn bị thức ăn, và đảm bảo mọi xung đột trong lòng được giải quyết. Vào ngày Sửa soạn, mọi tranh cãi nên được chấm dứt. Hãy xin lỗi lẫn nhau nếu có điều gì làm buồn lòng. Hãy dọn sạch ngôi nhà linh hồn cũng như ngôi nhà vật chất, để Chúa có thể ngự trị trong sự thánh khiết.

Đóng lại các công việc thế tục -Ngày Sửa soạn không phải là lúc để chúng ta cố gắng làm thêm giờ cho các công việc kinh doanh. Đó là ngày để khép lại mọi sổ sách, đóng lại mọi cửa hàng, và ngắt kết nối với các mối bận tâm của thế gian. Ai để công việc của sáu ngày làm việc lấn sang giờ thánh của Chúa là đang ăn trộm thời gian của Ngài.”

Nghi thức đón Sa-bát – Khi mặt trời lặn, hãy tập hợp gia đình lại. Hãy đọc một phân đoạn Kinh Thánh, hát một bài hát ca ngợi, và cầu nguyện xin Chúa ban phước cho ngày thánh. Đừng để những lo lắng về ngày mai xâm chiếm. Hãy coi Sa-bát như một ốc đảo và ngày thứ Sáu là con đường dẫn đến ốc đảo đó.

Rèn luyện kỷ luật – Kỷ luật của ngày thứ Sáu là nền tảng của đời sống Cơ Đốc nhân. Nếu một người không thể quản lý thời gian vào ngày thứ Sáu để giữ Sa-bát thánh, họ sẽ sớm thấy mình thỏa hiệp trong các lĩnh vực đạo đức khác. Ngày Sửa soạn chính là bài kiểm tra cho tình yêu thực sự đối với Luật pháp.

Việc nấu nướng – Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời thể hiện qua lệnh truyền nấu nướng vào ngày thứ Sáu. Điều này giúp cho người phụ nữ trong gia đình — người thường phải vất vả nhất — cũng được hưởng sự nghỉ ngơi trọn vẹn vào ngày Sa-bát. Thực phẩm được chuẩn bị vào ngày thứ Sáu mang theo hương vị của sự vâng lời.

Nghi thức Đón Sa-bát

Khi mặt trời lặn, mọi công việc thế tục phải dừng lại hoàn toàn, và tâm trí phải chuyển từ việc “mưu sinh” sang việc “thông công”. Đây là lúc gia đình trở thành một “đền thờ nhỏ” để cung nghinh sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

  • Lê-vi Ký 23:32 (Xác định thời điểm):

    “Ấy sẽ là một ngày Sa-bát, một ngày nghỉ cho các ngươi; các ngươi phải ép tâm hồn mình. Từ chiều tối ngày thứ chín tháng đó, từ chiều tối này đến chiều tối kia, các ngươi phải giữ ngày Sa-bát mình.” (Nguyên tắc Kinh Thánh: Ngày mới bắt đầu từ buổi chiều tối).

  • Ê-sai 58:13-14 (Tinh thần của buổi lễ):

    “Nếu ngươi giữ chân mình trong ngày Sa-bát, không làm theo ý riêng mình trong ngày thánh của ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, là ngày thánh của Đức Giê-hô-va, đáng tôn trọng; nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi đường riêng mình, không theo ý riêng mình, và không nói lời riêng mình, bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm vui thích…”

  • Thi thiên 92:1-2 (Bài hát cho ngày Sa-bát):

    “(Một bài thơ, bài hát cho ngày Sa-bát) Lấy làm tốt thay mà thâu cho Đức Giê-hô-va, và hát ngợi khen danh Ngài, hỡi Đấng Chí Cao! Vừa sáng truyền ra lòng nhân từ Ngài, và mỗi ban đêm rao truyền sự thành tín Ngài.

Tập hợp gia đình – Trước khi mặt trời lặn, hãy để các thành viên trong gia đình tập hợp lại để đọc lời Chúa, hát và cầu nguyện. Đây là lúc chúng ta nên dâng lên lời tạ ơn vì mọi phước hạnh trong tuần và cầu xin sự hiện diện của Ngài trong giờ thánh. Đừng để giờ phút mặt trời lặn trôi qua mà không có một lời cầu nguyện chung.

Thiết lập ranh giới – Khi bóng tối bắt đầu phủ xuống, hãy để mọi tiếng ồn ào của thế gian im bặt. Đừng để các câu chuyện về buôn bán, kinh doanh hay lo âu xâm chiếm bầu không khí gia đình. Chúng ta đang bước vào nơi thánh của thời gian, nơi mà chỉ có tiếng nói của Thánh Linh mới được chào đón.

Hát thánh ca  – Tiếng hát làm dịu đi những mệt mỏi của sáu ngày làm việc và chuẩn bị cho tâm hồn đón nhận sự nghỉ ngơi thiêng liêng. Sa-bát nên được bắt đầu bằng giai điệu của Thiên đàng thay vì sự im lặng u buồn.

Cầu nguyện hòa giải – Nghi thức đón Sa-bát sẽ không trọn vẹn nếu lòng còn giữ sự cay đắng. rước khi quỳ xuống cầu nguyện lúc mặt trời lặn, cha mẹ và con cái nên nắm tay nhau, xin lỗi về những sai phạm trong tuần. Sa-bát phải bắt đầu trong sự hòa thuận tuyệt đối.

Trang trọng của lễ tiết – Hãy mặc những bộ y phục sạch nhất, chuẩn bị một bàn ăn đơn giản nhưng tươm tất nhất. Cách chúng ta chuẩn bị và đón chào chiều Thứ Sáu cho thấy chúng ta kính sợ Đấng Sáng Tạo đến mức nào. Đây không phải là một thói quen, đây là một cuộc gặp gỡ với Vua của các vua.

Cảnh báo về sự trễ nải – Nhiều người vô tình phạm tội khi cứ cố làm thêm vài phút công việc sau khi mặt trời đã lặn. Chúa là Đấng chính xác. Ngài đã vạch ra ranh giới giữa cái thánh và cái phàm. Hãy dừng lại sớm hơn một chút thay vì muộn hơn một chút để sự vâng phục của bạn là trọn vẹn.”

Hoạt động trong Sáng Thứ Bảy – Sự Hội Hiệp Thánh và Nuôi dưỡng Linh hồn

 Ngày Sa-bát không chỉ là sự “nghỉ ngơi thụ động” (không làm việc), mà là sự “hoạt động thánh”. Sáng Thứ Bảy được dành riêng cho việc học hỏi Kinh Thánh có hệ thống (Trường Sa-bát) và lễ thờ phượng chung, nơi lẽ thật được rao giảng và tâm hồn được làm mới.

  • Lê-vi Ký 23:3 (Mệnh lệnh về sự nhóm hiệp):

    “Người ta sẽ làm việc trong sáu ngày; nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, một ngày nghỉ hay nghỉ, tức là một sự nhóm hiệp thánh; các ngươi chẳng nên làm một công việc gì; ấy là ngày Sa-bát của Đức Giê-hô-va trong khắp nơi các ngươi ở.”

  • Hê-bơ-rơ 10:24-25 (Khuyên bảo về sự thông công):

    “Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc lành; chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng hãy khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy.”

  • Lu-ca 4:16 (Gương mẫu của Chúa Giê-su):

    “Đức Chúa Giê-su đến thành Na-za-rét, là nơi dưỡng dục Ngài. Theo thói quen, Ngài vào nhà hội trong ngày Sa-bát, rồi đứng dậy để đọc.”

Hoạt động Chiều Thứ Bảy – Chiêm ngưỡng “Thiên nhiên” và Phục vụ nhân đạo

 Thiên nhiên là “quyền năng” của Đức Chúa Trời. Nếu buổi sáng chúng ta học lời Ngài qua Kinh Thánh, thì buổi chiều là lúc để tận mắt nhìn thấy quyền năng sáng tạo của Ngài trong vạn vật. Đồng thời, đây cũng là thời gian lý tưởng để noi gương Chúa Giê-su trong việc thăm viếng và an ủi những người đang gặp khó khăn.

  • Thi thiên 19:1-2 (Sự mặc khải qua thiên nhiên):

    “Các tầng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm. Ngày nầy giảng cho ngày kia, đêm nầy truyền tri thức cho đêm nọ.”

  • Ma-thi-ơ 12:12 (Làm việc lành trong ngày Sa-bát):

    “Một người đáng quí hơn con chiên biết bao! Vậy, trong ngày Sa-bát có phép làm việc lành.”

  • Rô-ma 1:20 (Nhận biết Chúa qua vạn vật):

    “Bởi vì những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền năng đời đời và bản tính Đức Chúa Trời, thì từ buổi sáng thế vẫn rõ ràng như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài.”

 Đi dạo trong thiên nhiên –Hãy đưa trẻ nhỏ ra ngoài thiên nhiên vào chiều Thứ Bảy. Hãy để chúng hít thở không khí trong lành, ngắm nhìn những bông hoa và lắng nghe tiếng chim hót. Trong khung cảnh đó, hãy dạy chúng rằng Đấng đã dựng nên những điều đẹp đẽ này cũng là Đấng yêu thương chúng. Thiên nhiên là trường học của Thiên đàng trong ngày Sa-bát.

 Đọc sách thuộc linh – Chiều Sa-bát là thời gian quý báu để đọc những tiểu sử đức tin hoặc các bài viết về truyền giáo. Hãy để tâm trí được nuôi dưỡng bởi những kinh nghiệm về quyền năng của Chúa trong đời sống con người, giúp củng cố niềm tin cho những thử thách của tuần tới.

 Thăm viếng người đau yếu – Chúa Giê-su đã dành nhiều giờ Sa-bát để chữa lành và an ủi. Chúng ta không có quyền năng làm phép lạ, nhưng chúng ta có đôi tay để giúp đỡ và đôi môi để an ủi. Một chuyến thăm đến người bệnh hoặc người già vào chiều Thứ Bảy là lễ vật thơm tho dâng lên Chúa.

 Tránh các câu chuyện thế tục – Dù ở trong nhà hay ngoài thiên nhiên, hãy canh giữ môi miệng. Thật dễ dàng để chiều Sa-bát trôi dạt vào những câu chuyện về mùa màng, chính trị hay tin đồn. Hãy chủ động lái các cuộc trò chuyện hướng về lòng nhân từ của Chúa.

Nghỉ ngơi sai lạc – Nhiều người coi Sa-bát là ngày để ngủ nướng hoặc nằm dài vô ích. Điều này là hạ thấp ngày thánh. Sa-bát là ngày để tâm hồn hoạt động tích cực nhất hướng về những điều thiêng liêng. Sự nghỉ ngơi thật sự là sự thay đổi đối tượng tập trung, từ công việc xác thịt sang công việc linh hồn.

 Chia sẻ đức tin – Chiều Thứ Bảy là thời điểm thuận tiện để phân phát các sách nhỏ hoặc dành thời gian giải thích lẽ thật cho những người lân cận đang tìm kiếm. Khi chúng ta nghỉ việc để giữ Sa-bát, bản thân hành động đó đã là một câu hỏi mà chúng ta cần sẵn sàng trả lời cho người khác.

Giữ gìn “Biên giới” của Tâm trí và Lời nói

  Sự vâng giữ ngày Sa-bát thật sự nằm ở việc thánh hóa tâm trí. Họ lập luận rằng nếu một người không làm việc nhưng tâm trí vẫn lo tính chuyện kinh doanh, hoặc môi miệng vẫn bàn tán về những chuyện thế tục, thì người đó đã vi phạm “biên giới” thiêng liêng của ngày thánh.

  • Ê-sai 58:13:

    “Nếu ngươi giữ chân mình trong ngày Sa-bát, không làm theo ý riêng mình trong ngày thánh của ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, là ngày thánh của Đức Giê-hô-va, đáng tôn trọng; nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi đường riêng mình, không theo ý riêng mình, và không nói lời riêng mình.

  • Thi thiên 19:14 (Lời cầu nguyện cho tâm trí):

    “Lạy Đức Giê-hô-va, là hòn đá tôi và là Đấng chuộc tôi, nguyện lời nói của miệng tôi và sự suy gẫm của lòng tôi được đẹp ý Ngài!” (Đặc biệt là trong ngày Sa-bát).

  • Phi-líp 4:8 (Tiêu chuẩn cho tư tưởng):

    “Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thanh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức, đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến.

 Canh giữ môi miệng – Những người tự coi mình là giữ ngày Sa-bát nhưng lại dành thời gian để nói về công việc làm ăn, kế hoạch tương lai hoặc các tin tức thế giới, thì thực chất đang phạm tội trước mặt Chúa. Chúa đòi hỏi không chỉ đôi tay phải nghỉ ngơi, mà cả lưỡi cũng phải được biệt riêng ra thánh.

Sự xâm lấn của tư tưởng thế gian – Tâm trí giống như một ngôi nhà có nhiều cửa. Vào ngày Sa-bát, chúng ta phải đóng mọi cửa sổ hướng về thị trường và thế gian. Nếu chúng ta để cho những suy nghĩ về lợi nhuận và mất mát lẻn vào, thì chúng ta đã biến đền thờ của tâm hồn thành một nơi buôn bán.

 Bản chất đạo đức của lời nói –Lời nói là kết quả của suy nghĩ. Một người giữ Sa-bát đúng nghĩa sẽ thấy rằng họ không thể thảo luận về chính trị hay các thú vui giải trí vào ngày của Chúa mà không làm tổn thương mối quan hệ của họ với Ngài. Sa-bát là bài kiểm tra về sự tự chủ của tâm hồn.

 Sự khác biệt giữa nghỉ ngơi thể xác và tâm linh – Con bò và con lừa cũng nghỉ ngơi về thể xác vào ngày Sa-bát, nhưng chúng không thể thánh hóa ngày đó. Chỉ có con người mới có khả năng thánh hóa ngày Sa-bát bằng cách hướng tâm trí về Đấng Tạo Hóa. Đừng để sự nghỉ ngơi của bạn chỉ dừng lại ở mức độ của loài thú vật.

 Việc bàn luận tin tức – Nhiều gia đình phạm sai lầm khi thảo luận về những sai sót của người khác hoặc các vấn đề gây tranh cãi của hội thánh vào ngày Sa-bát. Hãy gạt bỏ mọi sự cay đắng và phàn nàn. Hãy để môi miệng chỉ thốt ra những lời ngợi khen và những lẽ thật nâng đỡ linh hồn.”

Nghi thức Tiễn Sabbath – Chiều tối Thứ Bảy

  Khi mặt trời lặn vào chiều Thứ Bảy, ranh giới của ngày thánh kết thúc. Chúng ta không nên vội vã quay lại với công việc thế tục ngay lập tức. Thay vào đó, một nghi thức kết thúc ngắn gọn giúp gia đình giữ lại “hương thơm” của ngày Sa-bát trong suốt sáu ngày làm việc tiếp theo.

  • Thi thiên 121:8 (Lời cầu nguyện khi lên đường):

    “Đức Giê-hô-va sẽ giữ gìn ngươi khi ra khi vào, từ nay cho đến đời đời.” (Lời cầu nguyện khi bước từ “nơi thánh” của Sa-bát ra “thế gian” của tuần làm việc).

  • Dân số ký 6:24-26 (Lời chúc phước):

    “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va soi mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái thương ngươi và ban bình an cho ngươi!”

  • Thi thiên 37:5 (Phó thác tuần mới):

    “Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va, và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy.”

Giữ lại phước hạnh – Khi giờ thánh của ngày Sa-bát khép lại, hãy để những lời cầu nguyện và bài hát ca ngợi được dâng lên Chúa như một lễ vật cuối ngày. Đừng để sự vội vã của thế gian xâm chiếm tâm hồn ngay khi mặt trời vừa lặn. Hãy mang theo sự bình an của ngày Sa-bát vào những công việc của tuần mới.

Chuyển giao tâm thế – Cách chúng ta kết thúc ngày Sa-bát sẽ quyết định tinh thần của chúng ta trong ngày Thứ Nhất. Nếu chúng ta kết thúc trong sự cung kính, sức mạnh thuộc linh sẽ tuôn chảy vào công việc làm ăn của chúng ta, giúp chúng ta đứng vững trước những cám dỗ của sự tham lam và ích kỷ.

Cầu nguyện gia đình –  Các nhà tiên phong thường quây quần lại khi bóng tối buông xuống vào chiều Thứ Bảy. Họ tạ ơn Chúa vì sự nghỉ ngơi đã qua và cầu xin sự bảo vệ cho sáu ngày lao động sắp tới. Họ coi Sa-bát là nguồn năng lượng nạp vào cho cả tuần lễ.

Sự cam kết – Nghi thức tiễn Sa-bát là lúc để cam kết rằng những gì chúng ta đã học được từ lời Chúa trong ngày thánh sẽ được thực hành trong cuộc sống hàng ngày. Sa-bát không kết thúc thực sự cho đến khi nó biến thành hành động vâng lời trong tuần.

Tôn trọng ranh giới cuối cùng – Đừng nóng lòng chờ đợi mặt trời lặn để có thể bắt đầu kiếm tiền hay vui chơi. Hãy coi trọng những phút cuối cùng của Sa-bát như những phút đầu tiên. Sự thánh khiết của ngày nghỉ không giảm đi khi mặt trời thấp dần.

Kẻ Phá Hủy Và Thay Thế Ngày Sa-bát

Lời Tiên Tri về Thế lực định ý thay đổi thời kỳ và luật pháp trong Đa-ni-ên 7:25

Đa-ni-ên 7:25 không chỉ là một câu kinh thánh, mà là một “bản cáo trạng” lịch sử. Lời tiên tri này mô tả một thế lực tôn giáo-chính trị trỗi dậy từ Đế quốc La Mã (Cái sừng nhỏ), kẻ sẽ thực hiện một nỗ lực táo bạo nhất trong lịch sử vũ trụ: Tấn công vào chính Hiến pháp của Thiên đàng.

  • Đa-ni-ên 7:25: “Vua đó sẽ nói những lời phạm đến Đấng Rất Cao, làm hao mòn các thánh đồ của Đấng Rất Cao, và định ý thay đổi những thời kỳ và luật pháp.”

  • Đa-ni-ên 8:12“Cơ-binh đã bị phó cho nó cùng với của-lễ thiêu hằng dâng, vì cớ sự phạm-pháp; nó quăng lẽ thật xuống đất; nó làm theo ý mình và được hanh-thông.”
  • 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3-4 –Mặc ai dùng cách nào, đừng để họ lừa-dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội-ác hiện ra, là con của sự hư-mất, đối-địch cùng mọi sự người ta gọi là Đức Chúa Trời, hoặc người ta thờ-phượng, và tự tôn mình lên trên hết mọi sự đó, đến nỗi ngồi trong đền thờ Đức Chúa Trời, tự xưng mình là Đức Chúa Trời.”

Sự phạm thượng – “Việc thay đổi ngày Sa-bát là dấu hiệu cho thấy thẩm quyền của con người muốn vượt lên trên thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Đó là sự phạm thượng cao nhất: Một tội nhân phàm trần định ý chỉnh sửa sắc lệnh của Đấng Tối Cao.

Sự đánh tráo tinh vi –Satan biết hắn không thể bảo con người bỏ hoàn toàn luật pháp, nên hắn đã tạo ra một sự thay thế. Hắn ban cho thế gian một ngày nghỉ giả mạo (Chủ Nhật) để thay thế cho dấu ấn thật (Sa-bát), nhằm đánh tráo sự thờ phượng.

Nguồn Gốc Ngày Chủ Nhật: Sự thỏa hiệp của giáo hội với sự thờ thần Mặt trời

Ngày Chủ Nhật không có nguồn gốc từ Kinh Thánh mà từ sự thỏa hiệp chính trị và tôn giáo. Khi đạo Tin Lành sơ khai lan rộng vào đế quốc La Mã, các nhà lãnh đạo giáo hội đã tìm cách làm cho Cơ Đốc giáo trở nên “dễ tiếp nhận” hơn đối với người ngoại giáo. Bằng cách tiếp nhận ngày của thần Mặt Trời (dies solis), họ đã tạo ra một sự pha trộn độc hại giữa lẽ thật và tà giáo.

  • Phục-truyền Luật-lệ Ký 12:30- “Hãy giữ mình, kẻo sau khi các dân đó đã bị diệt khỏi trước mặt ngươi, ngươi sa vào bẫy, bước theo chúng nó, và chớ hỏi thăm về các thần của các dân đó rằng: Các dân này thờ-phượng các thần mình thế nào? Ta cũng muốn làm như vậy nữa.”
  • Ê-xê-chi-ên 8:16 -“Người dẫn ta vào hành-lang trong của đền-thờ Đức Giê-hô-va. Này, tại lối vào đền-thờ Đức Giê-hô-va, giữa hiên cửa và bàn-thờ, có độ hai mươi lăm người đang xây lưng về phía đền-thờ Đức Giê-hô-va và mặt hướng về phía đông; họ hướng về phía đông mà thờ-lạy mặt trời.”
  • Ma-thi-ơ 15:9 – “Sự họ thờ-phượng ta là vô ích, vì họ dạy những điều-răn mà chỉ là lời truyền giáo của loài người.”

Sự lừa dối tinh vi – Để lôi kéo những người ngoại giáo vào giáo hội, các nhà lãnh đạo đã hạ thấp tiêu chuẩn và pha trộn các ngày lễ của họ với các ngày lễ của Chúa. Ngày Chủ Nhật được đưa vào một cách dần dần như một ngày hội, rồi sau đó được cưỡng bách như một ngày thánh, nhằm thay thế ngày Sa-bát của Kinh Thánh.

Liên hệ với Babylon –Thờ lạy mặt trời là hình thức cổ xưa nhất của sự phản nghịch chống lại Chúa. Ngày Chủ Nhật là ‘đứa con’ của Babylon được nuôi dưỡng trong lòng giáo hội La Mã. Dân còn sót lại phải có nhiệm vụ vạch trần nguồn gốc u ám này.

Tráo đổi dấu ấn –Satan biết Sa-bát là dấu của Đấng Tạo Hóa. Vì vậy, hắn đã dùng quyền lực La Mã để tráo đổi dấu đó bằng ngày của riêng hắn. Ngày Chủ Nhật là dấu hiệu của sự bội đạo, được che đậy dưới danh nghĩa hòa hợp tôn giáo

Danh xưng của ngày nghỉ – Ngày Chủ Nhật (Sunday) ngay từ cái tên của nó đã mang dấu ấn của sự thờ phượng tà giáo. Nó là ngày thánh của các dân tộc ngoại đạo tôn thờ mặt trời. Việc giáo hội tiếp nhận cái tên này và ngày này là một sự sỉ nhục đối với Đấng dựng nên các vật sáng trên trời.

 

 

Biến Sa-bát Thành Niềm Vui Tình Yêu

Bản Chất nghỉ ngơi Sabbath: Sự khác biệt giữa nghỉ ngơi thể xác và thánh hóa tâm linh.

Việc chỉ ngồi yên hay ngủ trong ngày Sa-bát không phải là giữ ngày thánh. Nghỉ ngơi thể xác chỉ là điều kiện cần, còn thánh hóa tâm linh mới là điều kiện đủ. Sa-bát là một cuộc hẹn hò thiêng liêng, nơi con người gác lại những lo toan của thế gian để “nghỉ ngơi trong Đấng Christ”, tái tạo lại hình ảnh của Chúa trong linh hồn mình.

Sa-bát là một trải nghiệm ân điển. Khi chúng ta nghỉ ngơi đúng nghĩa, chúng ta thừa nhận rằng mình không thể tự cứu mình, mà hoàn toàn nương dựa vào quyền năng của Đấng đã dựng nên và chuộc tội cho mình.

  • Ê-sai 58:13-14“Nếu ngươi giữ chân mình trong ngày Sa-bát, không làm công việc riêng mình trong ngày thánh của ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, coi ngày thánh của Đức Giê-hô-va là đáng kính; nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi đường riêng mình, không theo ý riêng mình, và không nói lời riêng mình, bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm vui thích.”
  • Hê-bơ-rơ 4:9-10 “Vậy thì còn có một sự yên nghỉ Sa-bát cho dân Đức Chúa Trời. Bởi vì ai đã vào sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời, thì nghỉ công việc mình, cũng như Đức Chúa Trời đã nghỉ công việc Ngài vậy.”
  • Ê-xê-chi-ên 20:12– “Ta cũng cho chúng nó các ngày Sa-bát ta, để làm một dấu giữa ta và chúng nó, hầu cho chúng nó biết rằng ta là Đức Giê-hô-va, Đấng biệt chúng nó ra thánh.”

Nghỉ ngơi bởi đức tin – Sự nghỉ ngơi của ngày Sa-bát là một bài học về sự xưng công bình bởi đức tin. Chúng ta ngừng các công việc riêng của mình để thừa nhận rằng chỉ có công việc của Chúa mới có thể cứu chuộc và thánh hóa chúng ta. Đó là sự nghỉ ngơi của một lương tâm được bình an với Chúa.

Biệt riêng thời gian – Dừng công việc tay chân chỉ là cái vỏ bên ngoài; sự thông công với Đấng Tạo Hóa mới là nhân bên trong. Ngày Sa-bát là một ‘ngôi đền trong thời gian’ mà chúng ta bước vào để được Chúa biến đổi tâm linh.

Thánh hóa tâm linh – Sa-bát không chỉ nhắc chúng ta về sự Sáng thế đã qua, mà còn về sự Tái sáng tạo đang diễn ra. Khi chúng ta giữ ngày đó một cách thiêng liêng, Chúa dùng chính thời gian đó để biệt riêng chúng ta ra thánh, làm cho chúng ta trở nên giống Ngài hơn.

Mục đích của ngày nghỉ – Nếu bạn nghỉ ngơi thể xác mà không dành thời gian cầu nguyện và học lời Chúa, bạn chỉ đang làm điều mà con vật cũng có thể làm. Sự nghỉ ngơi của con người phải mang tính đạo đức—đó là sự nghỉ ngơi của ý chí trong ý muốn của Chúa.

Giải phóng tâm trí – Sự nghỉ ngơi thật sự là khi chúng ta trút bỏ gánh nặng tội lỗi và sự tự mãn dưới chân thập tự giá. Ngày Sa-bát là cơ hội hằng tuần để chúng ta thực hành sự đầu hàng trọn vẹn này, để Chúa có thể làm việc trong chúng ta.”

Vui thích trong Chúa – Đừng biến ngày Sa-bát thành một ngày buồn tẻ của những điều cấm đoán. Hãy biến nó thành một ngày thánh hóa bằng cách chiêm ngưỡng các công việc của Chúa trong thiên nhiên và trong lời Ngài. Đó là lúc linh hồn được nuôi dưỡng bằng ‘bánh thiên đàng’.

Sa-bát Và Gia Đình: Cách dạy trẻ nhỏ yêu mến ngày của Chúa

nếu cha mẹ giữ ngày Sa-bát như một gánh nặng hoặc một danh sách những điều cấm đoán, trẻ em sẽ sớm chán ghét tôn giáo. Thay vào đó, Sa-bát phải được biến thành ngày hạnh phúc nhất trong tuần. Đây là thời điểm cha mẹ gác lại công việc bộn bề để dành trọn vẹn sự chú ý cho con cái, cùng chúng khám phá thiên nhiên và tình yêu của Chúa.

  • Phục truyền luật lệ ký 6:6-7: “Các lời mà ta truyền cho ngươi ngày nay sẽ ở tại trong lòng ngươi; hãy ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái ngươi.”

  • Châm ngôn 22:6: “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo; dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó.”

  • Thi thiên 78:4: “Chúng tôi sẽ thuật lại cho dòng dõi hậu lai những sự ngợi khen Đức Giê-hô-va, quyền năng Ngài, và những công việc lạ lùng mà Ngài đã làm.”

Biến Sa-bát thành niềm vui – Đừng để trẻ em coi ngày Sa-bát là một ngày buồn tẻ và đáng sợ. Hãy làm cho nó trở nên thú vị bằng cách đưa chúng ra ngoài trời, chỉ cho chúng thấy vinh quang của Chúa trong hoa cỏ, chim muông, và kể cho chúng nghe những câu chuyện Kinh Thánh hấp dẫn.

Cha mẹ gắn kết con cái với Chúa – Trong sáu ngày làm việc, người cha thường bận rộn ít có thời gian cho con. Ngày Sa-bát là cơ hội thiên thượng để người cha trở thành người thầy, người bạn của con mình, hướng tâm trí chúng về Cha trên trời thông qua sự gắn kết gia đình.

Bài học từ thiên nhiên – Vì Sa-bát là kỷ niệm của sự Sáng Thế, nên thiên nhiên chính là quyển sách giáo khoa tốt nhất. Hãy dạy trẻ em rằng mỗi bông hoa nở và mỗi giọt sương đều là bằng chứng về tình yêu của Đấng đã ban cho chúng ta ngày nghỉ này.

Nêu gương – Trẻ em quan sát thái độ của cha mẹ nhiều hơn là nghe lời nói. Nếu cha mẹ bước vào ngày Sa-bát với sự vui mừng, trẻ em sẽ coi đó là một đặc ân. Nếu cha mẹ phàn nàn về sự gò bó, trẻ em sẽ coi đó là một xiềng xích.”

Bảo vệ con cái – Thế gian có những trò tiêu khiển giả dối để lôi kéo trẻ em. Sa-bát là rào dậu bảo vệ. Khi gia đình cùng nhau thờ phượng và nghỉ ngơi, chúng ta đang xây dựng một pháo đài tâm linh giúp con cái đứng vững trước những cám dỗ của thời kỳ cuối cùng.

Giáo dục thuộc linh – Đừng chỉ bắt trẻ em ngồi yên trong nhà hội. Hãy giải thích cho chúng ý nghĩa của các buổi lễ, cho chúng tham gia vào các hoạt động phục vụ người nghèo hoặc người bệnh trong ngày thánh. Đó là cách đức tin trở nên sống động trong lòng trẻ thơ.

Ngày Sửa Soạn (Thứ Sáu): Bí quyết để bước vào Sa-bát một cách bình an

 Sự thành công của một ngày Sa-bát không bắt đầu vào sáng thứ Bảy, mà bắt đầu từ ngày Thứ Sáu — được Kinh Thánh gọi là “Ngày Sửa Soạn”. Nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về cả vật chất lẫn tinh thần, chúng ta sẽ mang theo những gánh nặng, sự vội vã và những công việc chưa hoàn thành vào trong giờ thánh, làm ô uế sự bình an mà Chúa đã hứa ban.

  • Xuất Ê-díp-tô Ký 16:23: “Ấy là điều Đức Giê-hô-va đã phán rằng: Mai là ngày nghỉ, tức là ngày Sa-bát thánh của Đức Giê-hô-va. Hãy hấp bánh nào các ngươi muốn hấp, hãy nấu món nào các ngươi muốn nấu; còn dư bao nhiêu, hãy để dành đến sáng mai.”

  • Nê-hê-mi 13:19: “Vừa khi bóng tối vừa che các cửa thành Giê-ru-sa-lem trước ngày Sa-bát, thì tôi truyền đóng các cửa lại”.

Chuẩn bị toàn diện – Vào ngày thứ Sáu, hãy hoàn tất mọi việc chuẩn bị. Hãy để mọi quần áo được sẵn sàng, mọi thức ăn được nấu nướng xong xuôi. Hãy để việc đánh giày, tắm rửa được thực hiện. Đừng để bất kỳ công việc trần tục nào lấn chiếm vào giờ thánh của Chúa.

Bảo vệ tâm trí – Ngày Sửa Soạn giống như một chiếc hàng rào bảo vệ xung quanh ngày Sa-bát. Nếu bạn để lại những công việc dở dang vào chiều thứ Sáu, tâm trí bạn sẽ bị chúng ‘truy đuổi’ suốt ngày thứ Bảy, và bạn sẽ không thể nghỉ ngơi thật sự trong Chúa.

Hòa giải trước ngày thánh –Ngày Sửa Soạn không chỉ là lau dọn nhà cửa, mà còn là lau dọn tâm hồn. Nếu có sự bất hòa giữa các thành viên trong gia đình, hãy giải quyết nó trước khi mặt trời lặn vào thứ Sáu. Đừng bước vào sự hiện diện của Chúa với một trái tim không hòa thuận.

Việc đón mừng Sa-bát – Trước khi mặt trời lặn, hãy để cả gia đình tụ họp lại để hát ca, cầu nguyện và đọc lời Chúa. Hãy đón mừng ngày Sa-bát như đón mừng một vị khách quý, với sự tôn trọng và niềm vui sướng.

Về ranh giới thời gian – Giữ ngày Sa-bát bắt đầu từ lúc mặt trời lặn chiều thứ Sáu. Những ai cố tình làm việc sát giờ hoặc lấn chiếm vài phút sau khi mặt trời lặn là đang thể hiện một thái độ thiếu tôn kính đối với ranh giới mà Chúa đã vạch ra.

Việc Lành Trong Ngày Thánh: Sự cân bằng giữa nghỉ ngơi và phục vụ mọi người

 Nhiều người rơi vào thái cực “chủ nghĩa luật pháp”, coi ngày Sa-bát là một ngày bất động hoàn toàn. Sa-bát không phải là ngày của sự ích kỷ tâm linh. Dựa trên gương mẫu của Chúa Giê-su, họ khẳng định rằng việc làm giảm bớt nỗi đau của con người, thăm viếng người bệnh và giúp đỡ người nghèo khổ là những hành động làm vinh hiển ngày Sa-bát hơn là việc chỉ ngồi không một cách thụ động.

  • Ma-thi-ơ 12:11-12: “Nếu ai trong các ngươi có một con chiên bị té xuống hố trong ngày Sa-bát, há chẳng kéo nó lên sao? … Vậy nên, trong ngày Sa-bát có phép làm việc lành.”

  • Lu-ca 13:16: “Còn con gái của Áp-ra-ham này, Satan đã cầm buộc mười tám năm nay, há chẳng nên mở trói cho nó trong ngày Sa-bát sao?”

Lòng thương xót – Mọi việc cần thiết vì sự sống, mọi việc nhân từ đều là hợp pháp trong ngày Sa-bát. Chúa không muốn tạo vật của Ngài phải đau đớn một giờ đồng hồ nào mà chúng ta có thể làm giảm bớt được trong ngày thánh của Ngài. Những việc lành đó hòa quyện với sự thờ phượng.

Về sự khác biệt giữa công việc thế gian và việc lành- Công việc kiếm lời (kinh doanh) bị cấm, nhưng công việc của lòng thương xót được khuyến khích. Sa-bát là ngày để tôn vinh Đấng Tạo Hóa, và không có cách nào tôn vinh Ngài tốt hơn là phản chiếu lòng nhân từ của Ngài đối với những người đang đau khổ.

Giao giảng phúc âm – Chúa Giê-su dành phần lớn thời gian ngày Sa-bát để chữa bệnh. Ngài dạy chúng ta rằng Sa-bát là cơ hội vàng để rao giảng phúc âm thông qua những hành động tử tế thực tế. Đó là cách chúng ta làm cho ngày của Chúa trở nên rực rỡ.

Vui mừng của người nhận –Hãy mang đồ ăn cho người đói, quần áo cho người lạnh vào ngày Sa-bát. Khi họ nhận được sự giúp đỡ và ngợi khen Chúa, thì chính sự ngợi khen đó là bài ca tuyệt vời nhất dâng lên Ngài trong ngày thánh.

Giải phóng linh hồn – Giống như Chúa Giê-su giải phóng người nữ bị quỷ ám vào ngày Sa-bát, chúng ta nên dùng ngày này để giải phóng tâm trí con người khỏi sự tối tăm. Thăm viếng và an ủi người sầu khổ chính là đang thực hành tinh thần của Sa-bát.

Nghiêm ngặt về quy tắc,thoải mái tình yêu -“Một người giữ Sa-bát nghiêm ngặt về hình thức nhưng lại quay lưng trước nỗi đau của hàng xóm là một người Pha-ri-si hiện đại. Sa-bát là ngày của tình yêu, và tình yêu thì luôn hành động để mang lại niềm vui cho người khác.

Sa-bát Và Sức Khỏe: Tại sao cải cách sức khỏe hỗ trợ cho việc giữ ngày thánh

Hệ thần kinh là con đường duy nhất để Thiên Đàng liên lạc với con người. Nếu chúng ta vi phạm các quy luật sức khỏe (ăn uống vô độ, thiếu ngủ, lười vận động), trí não sẽ bị lu mờ, khiến chúng ta không thể nhận diện được sự thiêng liêng của ngày Sa-bát. Cải cách sức khỏe không phải là một giáo lý riêng biệt, mà là một “người giúp việc” để chúng ta có thể vâng giữ điều răn thứ tư với toàn bộ tâm hồn và sức lực.

  • 3 Giăng 1:2: “Thưa anh yêu dấu, tôi cầu nguyện cho anh được thịnh vượng mọi bề và khỏe mạnh về phần xác cũng như đã thịnh vượng về phần hồn vậy.”

  • 1 Cô-rinh-tô 10:31: “Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự gì khác, hãy vì vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm.”

  • 1 Cô-rinh-tô 6:19-20: “Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh… Hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời.”

Cảnh giác tham ăn – Việc chiều chuộng những thói quen ăn uống không lành mạnh sẽ làm tê liệt các cơ quan trí não. Khi đó, lẽ thật của Chúa và sự thánh khiết của ngày Sa-bát không còn được trân trọng đúng mức. Chúng ta cần một trí óc sáng suốt để có thể thờ phượng Ngài trong tâm thần và lẽ thật.

Làm việc có chứng mực –  Luật pháp Chúa được ghi tạc trên các bảng đá, nhưng nó cũng được ghi tạc trên các sợi dây thần kinh của con người. Vi phạm luật sức khỏe là gián tiếp làm suy yếu khả năng vâng giữ điều răn thứ tư. Sa-bát và Sức khỏe là hai cánh của một thiên sứ.

ự tỉnh táo trong ngày thánh –“Nhiều người đến nhà hội vào ngày Sa-bát với một cái bụng quá tải và một trí óc buồn ngủ. Đó không phải là thờ phượng; đó là sự xúc phạm. Cải cách sức khỏe dạy chúng ta ăn uống đơn giản, đặc biệt là vào ngày Thứ Sáu, để ngày Sa-bát chúng ta có được sự tỉnh táo cao nhất cho Chúa.

Chọn lối sống thuận tự nhiên vì đền thờ của Đức Thánh Linh – Nếu chúng ta phá hủy đền thờ (thân thể) của Chúa, làm sao chúng ta có thể đón mời sự hiện diện của Ngài vào ngày thánh? Sự nghỉ ngơi của Sa-bát sẽ đạt được hiệu quả phục hồi tối đa khi nó kết hợp với một lối sống thuận theo các quy luật thiên nhiên mà Chúa đã lập.

Nhịp điệu sinh học – Ngày Sa-bát là nhịp điệu của thời gian; cải cách sức khỏe là nhịp điệu của cơ thể. Khi cả hai hòa quyện, con người đạt đến trạng thái hài hòa cao nhất với Đấng Tạo Hóa. Người giữ Sa-bát thật sự phải là người yêu quý sức khỏe mà Chúa ban.

Rèn luyện sự bền bỉ  – “Cải cách sức khỏe là cánh cửa dẫn vào lẽ thật hiện tại. Nó chuẩn bị cho dân sự Chúa có sức chịu đựng bền bỉ để vượt qua cơn đại nạn và đứng vững trong ngày Sa-bát cuối cùng khi sự tự do bị đe dọa.”

Về sự chừng mực – Điều răn thứ tư yêu cầu sự tự chủ—từ bỏ công việc và ý riêng. Cải cách sức khỏe cũng yêu cầu sự tự chủ trong ăn uống. Ai không thể làm chủ được cái bụng của mình thì cũng khó lòng đứng vững trước thử thách về ngày Sa-bát trong tương lai.”

Sự thử thách lòng trung thành thông qua ngày Sabbath

Giữ ngày Chủ Nhật thay cho ngày Sabbath sẽ nhận Dấu Con Thú

Trong những ngày cuối cùng, vấn đề thờ phượng sẽ trở thành tâm điểm của toàn cầu. Việc lựa chọn giữ ngày Sa-bát của Chúa hay ngày Chủ Nhật của thế gian sẽ không còn là một lựa chọn tôn giáo cá nhân, mà là một thử thách về lòng trung thành.

“Dấu con thú” không phải là một con chip điện tử hay một ký hiệu hữu hình, mà là sự chấp nhận thẩm quyền của một quyền lực tôn giáo-chính trị thay thế cho thẩm quyền của Đức Chúa Trời.

  • Khải Huyền 13:16-17:Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự-chủ và tôi-mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán, hầu cho người nào không có dấu ấy, nghĩa là không có danh con thú hay số của tên nó, thì không thể mua cùng bán được.
  • Khải Huyền 14:9-10: “Nếu ai thờ phượng con thú cùng tượng nó, và chịu dấu nó nơi trán hay nơi tay, thì người ấy cũng sẽ uống rượu thinh nộ của Đức Chúa Trời.”

Con thú (Giáo Hội La Mã) tuyên bố ngày Chủ Nhật là dấu chỉ về thẩm quyền của mình. Do đó, việc cưỡng bách giữ ngày này chính là việc ép buộc mọi người công nhận quyền lập pháp của nó trên cả Luật pháp Chúa.

Việc giữ ngày Sa-bát giả (Chủ Nhật) theo luật pháp nhà nước, khi trái ngược với điều răn của Chúa, sẽ là một hành động bày tỏ sự thần phục quyền lực trái nghịch với Chúa. Đó chính là việc nhận lấy dấu của con thú.

Thẩm quyền thay đổi luật pháp – Con thú (quyền lực La Mã) tự cho mình cái quyền thay đổi luật pháp của Đấng Tối Cao (Đa-ni-ên 7:25). Ngày Chủ Nhật là cái ấn của quyền lực đó. Do đó, việc chấp nhận nó thay cho Sa-bát là công nhận thẩm quyền của con thú trên cả Đức Chúa Trời.

Sự tự do lương tâm – Việc cưỡng bách tôn giáo bằng luật pháp dân sự là đặc điểm của con thú. Đức Chúa Trời không bao giờ ép buộc lương tâm; chỉ có Satan mới làm điều đó. Ngày Chủ Nhật cưỡng bách là hình ảnh rõ nét nhất của sự bạo quyền tâm linh.

Tại sao Satan quyết tiêu diệt những người giữ ngày Sa-bát?

Cuộc chiến giữa Đấng Christ và Satan không phải về một ngày cụ thể, mà về Thẩm quyền. Ngày Sa-bát là “Cờ hiệu” của Đấng Tạo Hóa. Khi Satan lôi kéo thế gian thay đổi ngày nghỉ, hắn đang thiết lập một thẩm quyền đối lập. Những người giữ ngày Sa-bát thứ Bảy trở thành những nhân chứng sống động tố cáo sự phản nghịch của hắn, và đó là lý do hắn dồn toàn lực để tiêu diệt họ.

  • Khải Huyền 12:17: “Con rồng giận người đàn bà, đi tranh chiến cùng con cái khác của người, là những kẻ giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Đức Chúa Giê-su.”

  • Ê-xê-chi-ên 20:20: “Hãy biệt ngày Sa-bát ta ra thánh; nó sẽ là một dấu giữa ta và các ngươi, để các ngươi biết rằng ta là Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời các ngươi.”

  • Rô-ma 6:16: “Anh em há chẳng biết rằng nếu anh em nộp mình làm tôi tớ để vâng phục kẻ nào, thì anh em là tôi tớ của kẻ mình vâng phục sao?”

Sabbath là tâm điểm của cuộc tấn công –Satan biết rằng điều răn thứ tư xác định Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo. Nếu hắn có thể khiến con người chà đạp lên ngày Sa-bát, hắn sẽ khiến họ quên mất Đấng Tạo Hóa của mình. Cuộc chiến cuối cùng là cuộc chiến giữa luật pháp của vương quốc bóng tối và luật pháp của Jehovah.

Sabbath dấu hiệu của lòng trung thành – Ngày Sa-bát là bài kiểm tra lòng trung thành. Satan ghét nó vì nó là sợi dây liên kết con người với chính tòa ngai của Chúa. Kẻ nào giữ ngày Sa-bát là đang công khai tuyên bố mình không thuộc về vương quốc của kẻ phản nghịch.

Sự ghen tị của Satan – Satan luôn muốn được thờ phượng như Chúa. Bằng cách thay đổi ngày nghỉ của Chúa sang ngày của mình (Chủ Nhật), hắn đang nhận lấy sự thờ phượng từ thế gian. Những người giữ ngày thứ Bảy là những kẻ duy nhất phơi bày sự lừa dối này, và đó là lý do hắn không thể dung thứ cho họ.

Quyền tối thượng – Vấn đề ở đây là: Ai là Chúa của bạn? Nếu Chúa là Đức Giê-hô-va, hãy giữ ngày của Ngài. Nếu Satan (thông qua quyền lực con thú) là chúa, hãy giữ ngày của hắn. Sự giận dữ của con rồng nhắm vào những người chọn thẩm quyền của Kinh Thánh trên truyền thống con người.

Đạo Luật Ngày Chủ Nhật – Sự hợp nhất giữa tôn giáo và chính trị

Cuộc khủng hoảng cuối cùng sẽ không bắt đầu bằng một sự thay đổi tâm linh tự nguyện, mà bằng một đạo luật cưỡng bách. Đến thời điểm mà các tổ chức tôn giáo sẽ sử dụng quyền lực của chính phủ (chính trị) để thực thi việc giữ ngày Chủ Nhật, biến một vấn đề đức tin thành một nghĩa vụ dân sự. Đây chính là sự hình thành của “Tượng con thú”.

  • Khải Huyền 13:15-17- “Nó lại được quyền hà hơi sống vào tượng con thú, hầu cho tượng ấy nói được và khiến cho hết thảy những kẻ không thờ lạy tượng con thú đó đều bị giết đi. Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều phải chịu dấu nơi tay hữu hoặc trên trán, để cho không ai có thể mua hay bán được, nếu không có dấu ấy, tức là danh con thú hay là số của danh nó.”
  • Khải Huyền 17:3, 12-13″Tôi đương ở trong Thánh Linh, người bế tôi đi đến một đồng vắng; tôi thấy một người đàn bà ngồi trên một con thú sắc đỏ sậm, mình con thú đó đầy những tên sự phạm thượng, và có bảy đầu mười sừng. Mười sừng mà ngươi đã thấy, là mười vị vua chưa nhận được nước mình; nhưng họ nhận quyền phép trị nước với con thú trong một giờ, như là vua vậy. Chúng nó cùng một ý, hiệp sức và quyền phép mình mà cho con thú.”

Sự hợp nhất tôn giáo – “Khi các giáo hội hàng đầu của Hoa Kỳ, hiệp nhất lại trên những điểm giáo lý chung, sẽ gây ảnh hưởng lên Nhà nước để thực thi các nghị định và hỗ trợ các định chế của họ, thì lúc đó nước Mỹ theo đạo Tin Lành sẽ tạo ra một hình ảnh của hệ thống giáo quyền La Mã. Hình phạt dân sự sẽ được áp dụng cho những người không tuân thủ.”

Về sự tự do tôn giáo – Tôn giáo là trách nhiệm của cá nhân đối với Đấng Tạo Hóa. Khi chính phủ can thiệp bằng cách ban hành luật ngày nghỉ, họ đã bước ra ngoài thẩm quyền của mình và bước vào ngai vàng của Chúa. Đạo luật ngày Chủ Nhật là dấu hiệu của sự bạo chúa tôn giáo núp bóng luật pháp.

Ép buộc kinh tế – Luật pháp sẽ không bắt đầu bằng án tử hình ngay lập tức, mà bằng các lệnh cấm vận kinh tế: ‘Không ai có thể mua hay bán’. Đây là cách thế gian ép buộc lương tâm con người thông qua nhu cầu sinh tồn, thử thách đức tin của chúng ta vào sự chu cấp của Chúa.”

Luật pháp dân sự – Satan biết hắn không thể thuyết phục những người yêu mến Kinh Thánh bỏ ngày Sa-bát bằng lý luận, vì vậy hắn sẽ dùng vũ lực. Sự hợp nhất giữa Giáo hội và Nhà nước luôn dẫn đến sự bắt bớ những kẻ trung thành với 10 Điều Răn.

Lương Tâm Trở Thành Chiến Trường Cuối Cùng

Khi Sự Tự Do Lương Tâm bị đe dọa bởi các áp lực chính trị và tôn giáo. Đó là một vấn đề xã hội, mà là dấu hiệu cho thấy cuộc tranh chiến cuối cùng trong Khải Huyền đang tiến gần. ương tâm là “pháo đài” cuối cùng của linh hồn, nơi chỉ một mình Đức Chúa Trời có quyền ngự trị.

Đức Chúa Trời đã tạo ra con người với khả năng lựa chọn. Một sự vâng lời được tạo ra bằng hình phạt dân sự (tù tội, phạt tiền, cấm vận kinh tế) là vô giá trị trước mặt Chúa.

  • Công vụ 5:29: “Phi-e-rơ và các sứ đồ trả lời rằng: Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta.”

Satan luôn sử dụng sự ép buộc để buộc con người phải vâng phục mình. Hắn làm việc thông qua các quyền lực tôn giáo và thế gian để cưỡng bách lương tâm. Ngược lại, Chúa Giê-su thu phục lòng người bằng tình yêu.

Khi các sứ đồ nói ‘Thà vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta’, họ đã thiết lập nguyên tắc vĩnh cửu về tự do lương tâm. Không một sắc lệnh nào của con người có thể giải phóng chúng ta khỏi trách nhiệm vâng giữ các điều răn của Chúa.

Sự Nhẫn Nại Của Các Thánh Đồ: Đứng vững vì ngày Sa-bát giữa cơn bắt bớ

 Sự nhẫn nại (hupomone trong tiếng Hy Lạp) không chỉ là sự chịu đựng thụ động, mà là một sự kiên định bất khuất. Khi thế giới hợp nhất để cưỡng bách một ngày nghỉ giả mạo, dân sự Chúa sẽ bày tỏ một đức tin không lay chuyển vào 10 Điều Răn, bất chấp các lệnh cấm vận kinh tế hay đe dọa về tính mạng.

  • Khải Huyền 14:12: “Đây là sự nhẫn nại của các thánh đồ: Chúng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và giữ đức tin của Đức Chúa Giê-su.”

  • Gia-cơ 1:3-4: “Vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhẫn nại. Nhưng sự nhẫn nại phải làm trọn việc nó, hầu cho anh em được trọn vẹn và toàn vẹn, không thiếu thốn gì.”

 Khi cuộc tranh chiến trở nên gay gắt nhất, những người vâng giữ luật pháp Chúa sẽ bị coi là kẻ thù của xã hội. Nhưng chính trong bóng tối dày đặc đó, sự nhẫn nại của các thánh đồ sẽ tỏa sáng như những vì sao. Họ thà chịu khổ còn hơn là phạm tội.

 Mọi thế kỷ đều có những vị tử đạo, nhưng dân sự cuối cùng sẽ đối mặt với một cuộc thử thách phổ quát. Sự nhẫn nại của họ là bằng chứng cho toàn vũ trụ thấy rằng luật pháp của Chúa có thể được giữ bởi quyền năng của ân điển ngay cả trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

 

Đấng Christ Và Các Sứ Đồ – Sa-bát Trong Tân Ước

Chúa Giê-su Có Bãi Bỏ Sa-bát?: Ý nghĩa thật sự sau các cuộc chữa bệnh ngày Sa-bát

Chúa Giê-su thường xuyên chữa bệnh và bị người Pha-ri-si chỉ trích trong ngày Sa-bát là bằng chứng Ngài muốn bãi bỏ ngày này. Tuy nhiên, các nhà tiên phong SDA lập luận rằng Chúa Giê-su, với tư cách là Đấng Lập Pháp, đang thực hiện một cuộc cải chánh. Ngài không phá hủy ngày Sa-bát; Ngài đang giải phóng nó khỏi những truyền thống khắc nghiệt làm biến dạng bản chất yêu thương của Đức Chúa Trời.

  • Ma-thi-ơ 12:12: “Một người đáng quí hơn con chiên biết bao! Vậy, trong ngày Sa-bát có phép làm việc lành.”
  • Mác 2:27-28: “Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát.
  • Ê-sai 42:21: “Đức Giê-hô-va vì sự công bình mình, lấy làm vui lòng để tôn vinh luật pháp và làm cho trở nên rực rỡ.” (Chúa Giê-su làm cho Sa-bát rực rỡ hơn, chứ không phải lu mờ đi).

Về mục đích của việc chữa bệnh- Bằng cách chữa lành người bệnh trong ngày Sa-bát, Đấng Christ đã quét sạch những giáo điều vô nhân đạo vốn biến ngày nghỉ của Chúa thành một gánh nặng. Ngài bày tỏ rằng Sa-bát là ngày của sự giải phóng, ngày để xoa dịu nỗi đau và phục hồi sự sống.

Về sự nhất quán của Đấng Christ – Chúa Giê-su không thể mâu thuẫn với chính Ngài. Chính Ngài đã ban luật pháp tại Sinai. Việc Ngài chữa bệnh vào ngày thứ bảy là để chứng minh rằng ngày Sa-bát không bao giờ ngăn cản lòng nhân từ. Tội lỗi mới là thứ cần bị loại bỏ, chứ không phải ngày thánh.

Về sự hiểu lầm của người Pha-ri-si – Sai lầm của người Pha-ri-si là coi ngày Sa-bát quan trọng hơn con người. Chúa Giê-su đã điều chỉnh lại: Sa-bát vì loài người. Ngài không hạ thấp Sa-bát, nhưng Ngài nâng cao giá trị của con người trong ngày đó.

Về thẩm quyền của Đấng Lập Pháp – Chúa Giê-su tuyên bố mình là Chúa của ngày Sa-bát. Một vị vua không bao giờ phế truất chính mình. Ngài đứng ra bảo vệ Sa-bát khỏi những gông cùm của truyền thống để nhân loại có thể hưởng phước hạnh thật sự mà Ngài đã đặt vào đó từ thuở Sáng thế.

Chúa Giê-su luôn giữ ngày Sabbath

Chúa Giê-su không chỉ giảng về luật pháp; Ngài sống luật pháp đó. “Thói quen” đi nhà hội và biệt riêng ngày thứ bảy của Ngài không phải là sự ép buộc của luật lệ Do Thái, mà là sự bày tỏ bản chất thánh khiết của Đấng đã lập ra ngày đó từ thuở Sáng thế.

  • Lu-ca 4:16: “Đức Chúa Giê-su đến thành Na-za-rét… theo thói quen, Ngài vào nhà hội trong ngày Sa-bát, rồi đứng dậy để đọc.” (Chữ “thói quen” cho thấy một sự vâng giữ nhất quán suốt đời).

  • Giăng 15:10: “Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.”

  • 1 Phi-e-rơ 2:21: “Anh em đã được gọi đến sự đó; vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một dấu chân, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài.”

Tính nhất quán- Nếu Chúa Giê-su có ý định bãi bỏ ngày thứ bảy và thay bằng ngày thứ nhất, tại sao Ngài lại dành 33 năm trên đất để thiết lập một thói quen giữ ngày thứ bảy vững chắc như vậy? Ngài không bao giờ làm điều gì thừa thãi. Mọi bước đi của Ngài đều là sự xác nhận cho luật pháp vĩnh cửu.

Thẩm quyền gương mẫu của Chúa Giê-su – Chúng ta được kêu gọi để bước đi như Ngài đã bước đi. Chúa Giê-su đã bước vào nhà hội vào ngày thứ bảy; Ngài nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy; Ngài làm việc lành vào ngày thứ bảy. Những ai chối bỏ ngày thứ bảy là đang chọn một lối đi khác với dấu chân của Đấng Cứu Thế.

Sự tự do trong vâng phục – Chúa Giê-su không giữ Sa-bát như một nô lệ cho nghi lễ, mà như một người Con tự do vui thích trong ý muốn của Cha. Ngài cho chúng ta thấy rằng vâng giữ ngày thứ bảy là một sự tự do tâm linh, chứ không phải gánh nặng của chủ nghĩa luật pháp.

Các Sứ Đồ Vẫn Giữ Sabbath Sau Thập Tự Giá

Chúa sống lại vào ngày thứ nhất có mục đích thay đổi ngày Sa-bát, thì các Sứ đồ—những người trực tiếp nhận mệnh lệnh từ Chúa—phải là những người đầu tiên thực hiện sự thay đổi đó. Tuy nhiên, hồ sơ lịch sử trong sách Công vụ các Sứ đồ cho thấy một thực tế ngược lại: Trong suốt hàng chục năm sau Thập tự giá, họ vẫn giữ ngày thứ bảy làm ngày nhóm hiệp chính thức, ngay cả khi giảng dạy cho dân ngoại.

  • Công vụ 13:42, 44: “Khi hai người ra khỏi nhà hội, dân ngoại cầu khẩn đến ngày Sa-bát sau cũng giảng cho họ nghe lời đó… Đến ngày Sa-bát sau, gần hết cả thành đều nhóm lại để nghe đạo Chúa.” (Lưu ý: Phao-lô đã không bảo họ quay lại vào ngày mai/Chủ nhật).

  • Công vụ 16:13: “Đến ngày Sa-bát, chúng ta ra ngoài cửa thành, đến gần bên sông, là nơi chúng ta tưởng có chỗ cầu nguyện.” (Ngay cả khi không có nhà hội, các Sứ đồ vẫn biệt riêng ngày thứ bảy để thờ phượng).

  • Công vụ 18:4: “Hằng ngày Sa-bát, Phao-lô luận bài trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc (dân ngoại).”

Sự im lặng của Tân Ước đối với ngày Chủ nhật –Trong sách Công vụ, chúng ta tìm thấy hồ sơ của ít nhất 84 ngày Sa-bát được giữ bởi các Sứ đồ. Trong khi đó, không có một mệnh lệnh nào, không một lời dạy dỗ nào từ phía họ bảo tín hữu phải tôn thánh ngày thứ nhất của tuần lễ.

Cuộc tranh luận không tồn tại – Nếu các Sứ đồ thay đổi ngày Sa-bát sang Chủ nhật, chắc chắn đã xảy ra một cuộc tranh luận nảy lửa với những người Do Thái tin Chúa. Nhưng chúng ta thấy họ tranh luận về phép cắt bì, về thức ăn, nhưng chưa bao giờ tranh luận về việc đổi ngày nghỉ. Tại sao? Vì sự thay đổi đó chưa bao giờ xảy ra.

Lòng trung thành với Đấng Sáng Tạo- Các Sứ đồ hiểu rằng chức vụ của họ là rao giảng về một Đấng Christ đã phục sinh, nhưng là Đấng Christ đã thiết lập Sa-bát tại Ê-đen. Họ không thể rao giảng về Đấng Tạo Hóa mà lại chà đạp lên đài kỷ niệm của sự sáng tạo.

Giải Mã Các Phân Đoạn Khó Cô-lô-se 2 và Rô-ma 14

Phao-lô chưa bao giờ mâu thuẫn với chính mình. Một mặt ông khẳng định luật pháp là thánh, công bình và tốt lành (Rô-ma 7:12), mặt khác ông không thể bãi bỏ nó. Chìa khóa nằm ở việc phân biệt giữa Luật pháp Đạo đức (10 Điều Răn)Luật pháp Nghi lễ (Bóng mờ).

  • Cô-lô-se 2:16-17 –Chớ có ai đoán xét anh em về đồ ăn thức uống, hoặc về ngày lễ, ngày trăng mới, hay là ngày Sa-bát; ấy đều là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ.”

Trong tiếng Hy Lạp, từ “Sa-bát” ở đây là sabbatōn (số nhiều). Nó ám chỉ các ngày nghỉ lễ hàng năm của Do Thái giáo (như Lễ Vượt Qua, Lễ Chuộc Tội) vốn cũng được gọi là “Sa-bát” nhưng gắn liền với tế lễ và “đồ ăn thức uống”.

Có hai loại luật pháp: một loại bất biến và vĩnh cửu như ngôi của Chúa; một loại khác là tạm thời, được lập ra để chỉ về Đấng Christ. Phao-lô nói về loại thứ hai trong Cô-lô-se 2.

Danh từ số nhiều trong Cô-lô-se 2: 16-17 – “Phao-lô đang liệt kê các thành phần của luật nghi lễ: đồ ăn, thức uống, ngày trăng mới và các ngày ‘sa-bát’ năm (Lê-vi ký 23). Ông không bao giờ gộp ngày Sa-bát của Chúa vào danh sách các bóng mờ bị đóng đinh trên thập tự giá.”

  • Rô-ma 14:5-6 – Người này tưởng ngày này trọng hơn ngày khác, người kia tưởng mọi ngày đều bằng nhau. Ai nấy hãy tin chắc ở trí mình.Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa; kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ tạ ơn Đức Chúa Trời; kẻ chẳng ăn cũng chẳng ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Đức Chúa Trời.”

Phao-lô đang dạy sự khoan dung đối với những người mới tin đạo còn yếu đuối về việc giữ các ngày kiêng ăn Do Thái. Ông không bao giờ cho phép ai đó có ‘ý kiến riêng’ về việc lạy thần tượng hay vi phạm ngày Sa-bát.

Tại sao Chúa dặn môn đồ giữ Sa-bát khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt

Trong bài giảng về sự tận thế trên núi Ô-li-ve, Chúa Giê-su đã đưa ra một chỉ thị cụ thể cho các môn đồ về cuộc di tản khỏi thành Giê-ru-sa-lem (một sự kiện xảy ra vào năm 70 SCN, tức là gần 40 năm sau cái chết và sự sống lại của Ngài).

  • Ma-thi-ơ 24:20: “Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh trong mùa đông, hay là ngày Sa-bát.”

Sự tồn tại của Sa-bát sau thập tự giá – Chúa Giê-su nhìn thấy trước 40 năm tương lai. Nếu Ngài định đóng đinh ngày Sa-bát vào thập tự giá, Ngài đã không dạy các môn đồ phải cầu nguyện để tôn kính nó vào năm 70 SCN. Lời phán này xác nhận Sa-bát là một định chế của Tân Ước.

Sự quan phòng của Chúa- Chúa Giê-su quan tâm đến sự an nguy và lương tâm của dân Ngài. Ngài dặn họ cầu nguyện để không phải chạy trốn vào ngày Sa-bát, hầu cho tâm linh họ được bình an để thờ phượng Ngài ngay cả giữa cơn hoạn nạn.

Tính chất tiên tri –Lời cảnh báo này chứng minh rằng luật pháp của Đức Chúa Trời không bị thay đổi bởi những biến động chính trị hay tôn giáo. Sa-bát vẫn là điểm mốc cho dân sự Chúa cho đến tận cùng thời đại.