Biến Sa-bát Thành Niềm Vui

Bản Chất nghỉ ngơi Sabbath: Sự khác biệt giữa nghỉ ngơi thể xác và thánh hóa tâm linh.

Việc chỉ ngồi yên hay ngủ trong ngày Sa-bát không phải là giữ ngày thánh. Nghỉ ngơi thể xác chỉ là điều kiện cần, còn thánh hóa tâm linh mới là điều kiện đủ. Sa-bát là một cuộc hẹn hò thiêng liêng, nơi con người gác lại những lo toan của thế gian để “nghỉ ngơi trong Đấng Christ”, tái tạo lại hình ảnh của Chúa trong linh hồn mình.

Sa-bát là một trải nghiệm ân điển. Khi chúng ta nghỉ ngơi đúng nghĩa, chúng ta thừa nhận rằng mình không thể tự cứu mình, mà hoàn toàn nương dựa vào quyền năng của Đấng đã dựng nên và chuộc tội cho mình.

  • Ê-sai 58:13-14“Nếu ngươi giữ chân mình trong ngày Sa-bát, không làm công việc riêng mình trong ngày thánh của ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, coi ngày thánh của Đức Giê-hô-va là đáng kính; nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi đường riêng mình, không theo ý riêng mình, và không nói lời riêng mình, bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm vui thích.”
  • Hê-bơ-rơ 4:9-10 “Vậy thì còn có một sự yên nghỉ Sa-bát cho dân Đức Chúa Trời. Bởi vì ai đã vào sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời, thì nghỉ công việc mình, cũng như Đức Chúa Trời đã nghỉ công việc Ngài vậy.”
  • Ê-xê-chi-ên 20:12– “Ta cũng cho chúng nó các ngày Sa-bát ta, để làm một dấu giữa ta và chúng nó, hầu cho chúng nó biết rằng ta là Đức Giê-hô-va, Đấng biệt chúng nó ra thánh.”

Nghỉ ngơi bởi đức tin – Sự nghỉ ngơi của ngày Sa-bát là một bài học về sự xưng công bình bởi đức tin. Chúng ta ngừng các công việc riêng của mình để thừa nhận rằng chỉ có công việc của Chúa mới có thể cứu chuộc và thánh hóa chúng ta. Đó là sự nghỉ ngơi của một lương tâm được bình an với Chúa.

Biệt riêng thời gian – Dừng công việc tay chân chỉ là cái vỏ bên ngoài; sự thông công với Đấng Tạo Hóa mới là nhân bên trong. Ngày Sa-bát là một ‘ngôi đền trong thời gian’ mà chúng ta bước vào để được Chúa biến đổi tâm linh.

Thánh hóa tâm linh – Sa-bát không chỉ nhắc chúng ta về sự Sáng thế đã qua, mà còn về sự Tái sáng tạo đang diễn ra. Khi chúng ta giữ ngày đó một cách thiêng liêng, Chúa dùng chính thời gian đó để biệt riêng chúng ta ra thánh, làm cho chúng ta trở nên giống Ngài hơn.

Mục đích của ngày nghỉ – Nếu bạn nghỉ ngơi thể xác mà không dành thời gian cầu nguyện và học lời Chúa, bạn chỉ đang làm điều mà con vật cũng có thể làm. Sự nghỉ ngơi của con người phải mang tính đạo đức—đó là sự nghỉ ngơi của ý chí trong ý muốn của Chúa.

Giải phóng tâm trí – Sự nghỉ ngơi thật sự là khi chúng ta trút bỏ gánh nặng tội lỗi và sự tự mãn dưới chân thập tự giá. Ngày Sa-bát là cơ hội hằng tuần để chúng ta thực hành sự đầu hàng trọn vẹn này, để Chúa có thể làm việc trong chúng ta.”

Vui thích trong Chúa – Đừng biến ngày Sa-bát thành một ngày buồn tẻ của những điều cấm đoán. Hãy biến nó thành một ngày thánh hóa bằng cách chiêm ngưỡng các công việc của Chúa trong thiên nhiên và trong lời Ngài. Đó là lúc linh hồn được nuôi dưỡng bằng ‘bánh thiên đàng’.

Dạy mọi người yêu ngày Sabbath kể cả trẻ em

Sự thử thách lòng trung thành thông qua ngày Sabbath

Giữ ngày Chủ Nhật thay cho ngày Sabbath sẽ nhận Dấu Con Thú

Trong những ngày cuối cùng, vấn đề thờ phượng sẽ trở thành tâm điểm của toàn cầu. Việc lựa chọn giữ ngày Sa-bát của Chúa hay ngày Chủ Nhật của thế gian sẽ không còn là một lựa chọn tôn giáo cá nhân, mà là một thử thách về lòng trung thành.

“Dấu con thú” không phải là một con chip điện tử hay một ký hiệu hữu hình, mà là sự chấp nhận thẩm quyền của một quyền lực tôn giáo-chính trị thay thế cho thẩm quyền của Đức Chúa Trời.

  • Khải Huyền 13:16-17:Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự-chủ và tôi-mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán, hầu cho người nào không có dấu ấy, nghĩa là không có danh con thú hay số của tên nó, thì không thể mua cùng bán được.
  • Khải Huyền 14:9-10: “Nếu ai thờ phượng con thú cùng tượng nó, và chịu dấu nó nơi trán hay nơi tay, thì người ấy cũng sẽ uống rượu thinh nộ của Đức Chúa Trời.”

Con thú (Giáo Hội La Mã) tuyên bố ngày Chủ Nhật là dấu chỉ về thẩm quyền của mình. Do đó, việc cưỡng bách giữ ngày này chính là việc ép buộc mọi người công nhận quyền lập pháp của nó trên cả Luật pháp Chúa.

Việc giữ ngày Sa-bát giả (Chủ Nhật) theo luật pháp nhà nước, khi trái ngược với điều răn của Chúa, sẽ là một hành động bày tỏ sự thần phục quyền lực trái nghịch với Chúa. Đó chính là việc nhận lấy dấu của con thú.

Thẩm quyền thay đổi luật pháp – Con thú (quyền lực La Mã) tự cho mình cái quyền thay đổi luật pháp của Đấng Tối Cao (Đa-ni-ên 7:25). Ngày Chủ Nhật là cái ấn của quyền lực đó. Do đó, việc chấp nhận nó thay cho Sa-bát là công nhận thẩm quyền của con thú trên cả Đức Chúa Trời.

Sự tự do lương tâm – Việc cưỡng bách tôn giáo bằng luật pháp dân sự là đặc điểm của con thú. Đức Chúa Trời không bao giờ ép buộc lương tâm; chỉ có Satan mới làm điều đó. Ngày Chủ Nhật cưỡng bách là hình ảnh rõ nét nhất của sự bạo quyền tâm linh.

Tại sao Satan quyết tiêu diệt những người giữ ngày Sa-bát?

Cuộc chiến giữa Đấng Christ và Satan không phải về một ngày cụ thể, mà về Thẩm quyền. Ngày Sa-bát là “Cờ hiệu” của Đấng Tạo Hóa. Khi Satan lôi kéo thế gian thay đổi ngày nghỉ, hắn đang thiết lập một thẩm quyền đối lập. Những người giữ ngày Sa-bát thứ Bảy trở thành những nhân chứng sống động tố cáo sự phản nghịch của hắn, và đó là lý do hắn dồn toàn lực để tiêu diệt họ.

  • Khải Huyền 12:17: “Con rồng giận người đàn bà, đi tranh chiến cùng con cái khác của người, là những kẻ giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Đức Chúa Giê-su.”

  • Ê-xê-chi-ên 20:20: “Hãy biệt ngày Sa-bát ta ra thánh; nó sẽ là một dấu giữa ta và các ngươi, để các ngươi biết rằng ta là Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời các ngươi.”

  • Rô-ma 6:16: “Anh em há chẳng biết rằng nếu anh em nộp mình làm tôi tớ để vâng phục kẻ nào, thì anh em là tôi tớ của kẻ mình vâng phục sao?”

Sabbath là tâm điểm của cuộc tấn công –Satan biết rằng điều răn thứ tư xác định Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo. Nếu hắn có thể khiến con người chà đạp lên ngày Sa-bát, hắn sẽ khiến họ quên mất Đấng Tạo Hóa của mình. Cuộc chiến cuối cùng là cuộc chiến giữa luật pháp của vương quốc bóng tối và luật pháp của Jehovah.

Sabbath dấu hiệu của lòng trung thành – Ngày Sa-bát là bài kiểm tra lòng trung thành. Satan ghét nó vì nó là sợi dây liên kết con người với chính tòa ngai của Chúa. Kẻ nào giữ ngày Sa-bát là đang công khai tuyên bố mình không thuộc về vương quốc của kẻ phản nghịch.

Sự ghen tị của Satan – Satan luôn muốn được thờ phượng như Chúa. Bằng cách thay đổi ngày nghỉ của Chúa sang ngày của mình (Chủ Nhật), hắn đang nhận lấy sự thờ phượng từ thế gian. Những người giữ ngày thứ Bảy là những kẻ duy nhất phơi bày sự lừa dối này, và đó là lý do hắn không thể dung thứ cho họ.

Quyền tối thượng – Vấn đề ở đây là: Ai là Chúa của bạn? Nếu Chúa là Đức Giê-hô-va, hãy giữ ngày của Ngài. Nếu Satan (thông qua quyền lực con thú) là chúa, hãy giữ ngày của hắn. Sự giận dữ của con rồng nhắm vào những người chọn thẩm quyền của Kinh Thánh trên truyền thống con người.

Đạo Luật Ngày Chủ Nhật – Sự hợp nhất giữa tôn giáo và chính trị

Cuộc khủng hoảng cuối cùng sẽ không bắt đầu bằng một sự thay đổi tâm linh tự nguyện, mà bằng một đạo luật cưỡng bách. Đến thời điểm mà các tổ chức tôn giáo sẽ sử dụng quyền lực của chính phủ (chính trị) để thực thi việc giữ ngày Chủ Nhật, biến một vấn đề đức tin thành một nghĩa vụ dân sự. Đây chính là sự hình thành của “Tượng con thú”.

  • Khải Huyền 13:15-17- “Nó lại được quyền hà hơi sống vào tượng con thú, hầu cho tượng ấy nói được và khiến cho hết thảy những kẻ không thờ lạy tượng con thú đó đều bị giết đi. Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều phải chịu dấu nơi tay hữu hoặc trên trán, để cho không ai có thể mua hay bán được, nếu không có dấu ấy, tức là danh con thú hay là số của danh nó.”
  • Khải Huyền 17:3, 12-13″Tôi đương ở trong Thánh Linh, người bế tôi đi đến một đồng vắng; tôi thấy một người đàn bà ngồi trên một con thú sắc đỏ sậm, mình con thú đó đầy những tên sự phạm thượng, và có bảy đầu mười sừng. Mười sừng mà ngươi đã thấy, là mười vị vua chưa nhận được nước mình; nhưng họ nhận quyền phép trị nước với con thú trong một giờ, như là vua vậy. Chúng nó cùng một ý, hiệp sức và quyền phép mình mà cho con thú.”

Sự hợp nhất tôn giáo – “Khi các giáo hội hàng đầu của Hoa Kỳ, hiệp nhất lại trên những điểm giáo lý chung, sẽ gây ảnh hưởng lên Nhà nước để thực thi các nghị định và hỗ trợ các định chế của họ, thì lúc đó nước Mỹ theo đạo Tin Lành sẽ tạo ra một hình ảnh của hệ thống giáo quyền La Mã. Hình phạt dân sự sẽ được áp dụng cho những người không tuân thủ.”

Về sự tự do tôn giáo – Tôn giáo là trách nhiệm của cá nhân đối với Đấng Tạo Hóa. Khi chính phủ can thiệp bằng cách ban hành luật ngày nghỉ, họ đã bước ra ngoài thẩm quyền của mình và bước vào ngai vàng của Chúa. Đạo luật ngày Chủ Nhật là dấu hiệu của sự bạo chúa tôn giáo núp bóng luật pháp.

Ép buộc kinh tế – Luật pháp sẽ không bắt đầu bằng án tử hình ngay lập tức, mà bằng các lệnh cấm vận kinh tế: ‘Không ai có thể mua hay bán’. Đây là cách thế gian ép buộc lương tâm con người thông qua nhu cầu sinh tồn, thử thách đức tin của chúng ta vào sự chu cấp của Chúa.”

Luật pháp dân sự – Satan biết hắn không thể thuyết phục những người yêu mến Kinh Thánh bỏ ngày Sa-bát bằng lý luận, vì vậy hắn sẽ dùng vũ lực. Sự hợp nhất giữa Giáo hội và Nhà nước luôn dẫn đến sự bắt bớ những kẻ trung thành với 10 Điều Răn.

Lương Tâm Trở Thành Chiến Trường Cuối Cùng

Khi Sự Tự Do Lương Tâm bị đe dọa bởi các áp lực chính trị và tôn giáo. Đó là một vấn đề xã hội, mà là dấu hiệu cho thấy cuộc tranh chiến cuối cùng trong Khải Huyền đang tiến gần. ương tâm là “pháo đài” cuối cùng của linh hồn, nơi chỉ một mình Đức Chúa Trời có quyền ngự trị.

Đức Chúa Trời đã tạo ra con người với khả năng lựa chọn. Một sự vâng lời được tạo ra bằng hình phạt dân sự (tù tội, phạt tiền, cấm vận kinh tế) là vô giá trị trước mặt Chúa.

  • Công vụ 5:29: “Phi-e-rơ và các sứ đồ trả lời rằng: Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta.”

Satan luôn sử dụng sự ép buộc để buộc con người phải vâng phục mình. Hắn làm việc thông qua các quyền lực tôn giáo và thế gian để cưỡng bách lương tâm. Ngược lại, Chúa Giê-su thu phục lòng người bằng tình yêu.

Khi các sứ đồ nói ‘Thà vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta’, họ đã thiết lập nguyên tắc vĩnh cửu về tự do lương tâm. Không một sắc lệnh nào của con người có thể giải phóng chúng ta khỏi trách nhiệm vâng giữ các điều răn của Chúa.

Sự Nhẫn Nại Của Các Thánh Đồ: Đứng vững vì ngày Sa-bát giữa cơn bắt bớ

 Sự nhẫn nại (hupomone trong tiếng Hy Lạp) không chỉ là sự chịu đựng thụ động, mà là một sự kiên định bất khuất. Khi thế giới hợp nhất để cưỡng bách một ngày nghỉ giả mạo, dân sự Chúa sẽ bày tỏ một đức tin không lay chuyển vào 10 Điều Răn, bất chấp các lệnh cấm vận kinh tế hay đe dọa về tính mạng.

  • Khải Huyền 14:12: “Đây là sự nhẫn nại của các thánh đồ: Chúng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và giữ đức tin của Đức Chúa Giê-su.”

  • Gia-cơ 1:3-4: “Vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhẫn nại. Nhưng sự nhẫn nại phải làm trọn việc nó, hầu cho anh em được trọn vẹn và toàn vẹn, không thiếu thốn gì.”

 Khi cuộc tranh chiến trở nên gay gắt nhất, những người vâng giữ luật pháp Chúa sẽ bị coi là kẻ thù của xã hội. Nhưng chính trong bóng tối dày đặc đó, sự nhẫn nại của các thánh đồ sẽ tỏa sáng như những vì sao. Họ thà chịu khổ còn hơn là phạm tội.

 Mọi thế kỷ đều có những vị tử đạo, nhưng dân sự cuối cùng sẽ đối mặt với một cuộc thử thách phổ quát. Sự nhẫn nại của họ là bằng chứng cho toàn vũ trụ thấy rằng luật pháp của Chúa có thể được giữ bởi quyền năng của ân điển ngay cả trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

 

Đấng Christ Và Các Sứ Đồ – Sa-bát Trong Tân Ước

Chúa Giê-su Có Bãi Bỏ Sa-bát?: Ý nghĩa thật sự sau các cuộc chữa bệnh ngày Sa-bát

Chúa Giê-su thường xuyên chữa bệnh và bị người Pha-ri-si chỉ trích trong ngày Sa-bát là bằng chứng Ngài muốn bãi bỏ ngày này. Tuy nhiên, các nhà tiên phong SDA lập luận rằng Chúa Giê-su, với tư cách là Đấng Lập Pháp, đang thực hiện một cuộc cải chánh. Ngài không phá hủy ngày Sa-bát; Ngài đang giải phóng nó khỏi những truyền thống khắc nghiệt làm biến dạng bản chất yêu thương của Đức Chúa Trời.

  • Ma-thi-ơ 12:12: “Một người đáng quí hơn con chiên biết bao! Vậy, trong ngày Sa-bát có phép làm việc lành.”
  • Mác 2:27-28: “Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát.
  • Ê-sai 42:21: “Đức Giê-hô-va vì sự công bình mình, lấy làm vui lòng để tôn vinh luật pháp và làm cho trở nên rực rỡ.” (Chúa Giê-su làm cho Sa-bát rực rỡ hơn, chứ không phải lu mờ đi).

Về mục đích của việc chữa bệnh- Bằng cách chữa lành người bệnh trong ngày Sa-bát, Đấng Christ đã quét sạch những giáo điều vô nhân đạo vốn biến ngày nghỉ của Chúa thành một gánh nặng. Ngài bày tỏ rằng Sa-bát là ngày của sự giải phóng, ngày để xoa dịu nỗi đau và phục hồi sự sống.

Về sự nhất quán của Đấng Christ – Chúa Giê-su không thể mâu thuẫn với chính Ngài. Chính Ngài đã ban luật pháp tại Sinai. Việc Ngài chữa bệnh vào ngày thứ bảy là để chứng minh rằng ngày Sa-bát không bao giờ ngăn cản lòng nhân từ. Tội lỗi mới là thứ cần bị loại bỏ, chứ không phải ngày thánh.

Về sự hiểu lầm của người Pha-ri-si – Sai lầm của người Pha-ri-si là coi ngày Sa-bát quan trọng hơn con người. Chúa Giê-su đã điều chỉnh lại: Sa-bát vì loài người. Ngài không hạ thấp Sa-bát, nhưng Ngài nâng cao giá trị của con người trong ngày đó.

Về thẩm quyền của Đấng Lập Pháp – Chúa Giê-su tuyên bố mình là Chúa của ngày Sa-bát. Một vị vua không bao giờ phế truất chính mình. Ngài đứng ra bảo vệ Sa-bát khỏi những gông cùm của truyền thống để nhân loại có thể hưởng phước hạnh thật sự mà Ngài đã đặt vào đó từ thuở Sáng thế.

Chúa Giê-su luôn giữ ngày Sabbath

Chúa Giê-su không chỉ giảng về luật pháp; Ngài sống luật pháp đó. “Thói quen” đi nhà hội và biệt riêng ngày thứ bảy của Ngài không phải là sự ép buộc của luật lệ Do Thái, mà là sự bày tỏ bản chất thánh khiết của Đấng đã lập ra ngày đó từ thuở Sáng thế.

  • Lu-ca 4:16: “Đức Chúa Giê-su đến thành Na-za-rét… theo thói quen, Ngài vào nhà hội trong ngày Sa-bát, rồi đứng dậy để đọc.” (Chữ “thói quen” cho thấy một sự vâng giữ nhất quán suốt đời).

  • Giăng 15:10: “Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.”

  • 1 Phi-e-rơ 2:21: “Anh em đã được gọi đến sự đó; vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một dấu chân, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài.”

Tính nhất quán- Nếu Chúa Giê-su có ý định bãi bỏ ngày thứ bảy và thay bằng ngày thứ nhất, tại sao Ngài lại dành 33 năm trên đất để thiết lập một thói quen giữ ngày thứ bảy vững chắc như vậy? Ngài không bao giờ làm điều gì thừa thãi. Mọi bước đi của Ngài đều là sự xác nhận cho luật pháp vĩnh cửu.

Thẩm quyền gương mẫu của Chúa Giê-su – Chúng ta được kêu gọi để bước đi như Ngài đã bước đi. Chúa Giê-su đã bước vào nhà hội vào ngày thứ bảy; Ngài nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy; Ngài làm việc lành vào ngày thứ bảy. Những ai chối bỏ ngày thứ bảy là đang chọn một lối đi khác với dấu chân của Đấng Cứu Thế.

Sự tự do trong vâng phục – Chúa Giê-su không giữ Sa-bát như một nô lệ cho nghi lễ, mà như một người Con tự do vui thích trong ý muốn của Cha. Ngài cho chúng ta thấy rằng vâng giữ ngày thứ bảy là một sự tự do tâm linh, chứ không phải gánh nặng của chủ nghĩa luật pháp.

Các Sứ Đồ Vẫn Giữ Sabbath Sau Thập Tự Giá

Chúa sống lại vào ngày thứ nhất có mục đích thay đổi ngày Sa-bát, thì các Sứ đồ—những người trực tiếp nhận mệnh lệnh từ Chúa—phải là những người đầu tiên thực hiện sự thay đổi đó. Tuy nhiên, hồ sơ lịch sử trong sách Công vụ các Sứ đồ cho thấy một thực tế ngược lại: Trong suốt hàng chục năm sau Thập tự giá, họ vẫn giữ ngày thứ bảy làm ngày nhóm hiệp chính thức, ngay cả khi giảng dạy cho dân ngoại.

  • Công vụ 13:42, 44: “Khi hai người ra khỏi nhà hội, dân ngoại cầu khẩn đến ngày Sa-bát sau cũng giảng cho họ nghe lời đó… Đến ngày Sa-bát sau, gần hết cả thành đều nhóm lại để nghe đạo Chúa.” (Lưu ý: Phao-lô đã không bảo họ quay lại vào ngày mai/Chủ nhật).

  • Công vụ 16:13: “Đến ngày Sa-bát, chúng ta ra ngoài cửa thành, đến gần bên sông, là nơi chúng ta tưởng có chỗ cầu nguyện.” (Ngay cả khi không có nhà hội, các Sứ đồ vẫn biệt riêng ngày thứ bảy để thờ phượng).

  • Công vụ 18:4: “Hằng ngày Sa-bát, Phao-lô luận bài trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc (dân ngoại).”

Sự im lặng của Tân Ước đối với ngày Chủ nhật –Trong sách Công vụ, chúng ta tìm thấy hồ sơ của ít nhất 84 ngày Sa-bát được giữ bởi các Sứ đồ. Trong khi đó, không có một mệnh lệnh nào, không một lời dạy dỗ nào từ phía họ bảo tín hữu phải tôn thánh ngày thứ nhất của tuần lễ.

Cuộc tranh luận không tồn tại – Nếu các Sứ đồ thay đổi ngày Sa-bát sang Chủ nhật, chắc chắn đã xảy ra một cuộc tranh luận nảy lửa với những người Do Thái tin Chúa. Nhưng chúng ta thấy họ tranh luận về phép cắt bì, về thức ăn, nhưng chưa bao giờ tranh luận về việc đổi ngày nghỉ. Tại sao? Vì sự thay đổi đó chưa bao giờ xảy ra.

Lòng trung thành với Đấng Sáng Tạo- Các Sứ đồ hiểu rằng chức vụ của họ là rao giảng về một Đấng Christ đã phục sinh, nhưng là Đấng Christ đã thiết lập Sa-bát tại Ê-đen. Họ không thể rao giảng về Đấng Tạo Hóa mà lại chà đạp lên đài kỷ niệm của sự sáng tạo.

Giải Mã Các Phân Đoạn Khó Cô-lô-se 2 và Rô-ma 14

Phao-lô chưa bao giờ mâu thuẫn với chính mình. Một mặt ông khẳng định luật pháp là thánh, công bình và tốt lành (Rô-ma 7:12), mặt khác ông không thể bãi bỏ nó. Chìa khóa nằm ở việc phân biệt giữa Luật pháp Đạo đức (10 Điều Răn)Luật pháp Nghi lễ (Bóng mờ).

  • Cô-lô-se 2:16-17 –Chớ có ai đoán xét anh em về đồ ăn thức uống, hoặc về ngày lễ, ngày trăng mới, hay là ngày Sa-bát; ấy đều là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ.”

Trong tiếng Hy Lạp, từ “Sa-bát” ở đây là sabbatōn (số nhiều). Nó ám chỉ các ngày nghỉ lễ hàng năm của Do Thái giáo (như Lễ Vượt Qua, Lễ Chuộc Tội) vốn cũng được gọi là “Sa-bát” nhưng gắn liền với tế lễ và “đồ ăn thức uống”.

Có hai loại luật pháp: một loại bất biến và vĩnh cửu như ngôi của Chúa; một loại khác là tạm thời, được lập ra để chỉ về Đấng Christ. Phao-lô nói về loại thứ hai trong Cô-lô-se 2.

Danh từ số nhiều trong Cô-lô-se 2: 16-17 – “Phao-lô đang liệt kê các thành phần của luật nghi lễ: đồ ăn, thức uống, ngày trăng mới và các ngày ‘sa-bát’ năm (Lê-vi ký 23). Ông không bao giờ gộp ngày Sa-bát của Chúa vào danh sách các bóng mờ bị đóng đinh trên thập tự giá.”

  • Rô-ma 14:5-6 – Người này tưởng ngày này trọng hơn ngày khác, người kia tưởng mọi ngày đều bằng nhau. Ai nấy hãy tin chắc ở trí mình.Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa; kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ tạ ơn Đức Chúa Trời; kẻ chẳng ăn cũng chẳng ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Đức Chúa Trời.”

Phao-lô đang dạy sự khoan dung đối với những người mới tin đạo còn yếu đuối về việc giữ các ngày kiêng ăn Do Thái. Ông không bao giờ cho phép ai đó có ‘ý kiến riêng’ về việc lạy thần tượng hay vi phạm ngày Sa-bát.

Tại sao Chúa dặn môn đồ giữ Sa-bát khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt

Trong bài giảng về sự tận thế trên núi Ô-li-ve, Chúa Giê-su đã đưa ra một chỉ thị cụ thể cho các môn đồ về cuộc di tản khỏi thành Giê-ru-sa-lem (một sự kiện xảy ra vào năm 70 SCN, tức là gần 40 năm sau cái chết và sự sống lại của Ngài).

  • Ma-thi-ơ 24:20: “Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh trong mùa đông, hay là ngày Sa-bát.”

Sự tồn tại của Sa-bát sau thập tự giá – Chúa Giê-su nhìn thấy trước 40 năm tương lai. Nếu Ngài định đóng đinh ngày Sa-bát vào thập tự giá, Ngài đã không dạy các môn đồ phải cầu nguyện để tôn kính nó vào năm 70 SCN. Lời phán này xác nhận Sa-bát là một định chế của Tân Ước.

Sự quan phòng của Chúa- Chúa Giê-su quan tâm đến sự an nguy và lương tâm của dân Ngài. Ngài dặn họ cầu nguyện để không phải chạy trốn vào ngày Sa-bát, hầu cho tâm linh họ được bình an để thờ phượng Ngài ngay cả giữa cơn hoạn nạn.

Tính chất tiên tri –Lời cảnh báo này chứng minh rằng luật pháp của Đức Chúa Trời không bị thay đổi bởi những biến động chính trị hay tôn giáo. Sa-bát vẫn là điểm mốc cho dân sự Chúa cho đến tận cùng thời đại.

Cội Nguồn Thiên Thượng – Ngày Sa-bát Tại Vườn Ê-đen

Nguồn Gốc Vườn Ê-đen: Tại sao Sa-bát có trước mọi tôn giáo và dân tộc?

Ngày Sa-bát được thiết lập tại Vườn Ê-đen, ngay sau khi tuần lễ Sáng thế kết thúc. Điều này có nghĩa là Sa-bát ra đời trước khi có tội lỗi, trước khi có dân Do Thái, và trước khi có bất kỳ hệ thống tôn giáo nghi lễ nào. Nó là một định chế nguyên thủy dành cho con người hoàn hảo, nhằm duy trì mối liên kết trực tiếp giữa tạo vật và Đấng Tạo Hóa.

  • Sáng thế ký 2:3: “Đức Chúa Trời ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi.”

  • Mác 2:27: “Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chứ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người.”

Nếu Sa-bát chỉ dành cho người Do Thái, tại sao nó lại được thiết lập khi Adam là người duy nhất trên đất? Adam không phải là người Do Thái; ông là đại diện cho cả dòng giống loài người. Vì vậy, Sa-bát thuộc về mọi dân tộc.

Mọi người đều thừa nhận rằng hôn nhân bắt đầu tại Ê-đen và dành cho tất cả mọi người. Vậy thì tại sao họ lại nói Sa-bát — vốn được thiết lập cùng một lúc, cùng một nơi, và cùng một Đấng — lại chỉ dành riêng cho người Do Thái?

Ngay cả khi chưa sa ngã, Adam vẫn cần ngày Sa-bát để thông công mật thiết hơn với Chúa. Nếu con người hoàn hảo cần nó, thì con người tội lỗi chúng ta ngày nay càng cần nó gấp bội.

Chúa Nghỉ ngơi, Ban phước và Biệt riêng ngày thứ bảy

Ngày thứ bảy không tự nhiên mà thánh. Nó trở nên thánh nhờ ba hành động cụ thể và có chủ đích của chính Đấng Tạo Hóa. Nếu thiếu một trong ba bước này, ngày thứ bảy sẽ chỉ là một ngày bình thường như bao ngày khác.

  • Sáng thế ký 2:2: “Đến ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời làm xong công việc Ngài đã làm; và Ngài nghỉ tại ngày thứ bảy.”
  • Sáng thế ký 2:3: “Đức Chúa Trời ban phước cho ngày thứ bảy.Đặt là ngày thánh.

Đức Chúa Trời nghỉ ngơi không phải vì Ngài mệt mỏi, bởi Đấng Toàn Năng không bao giờ mệt. Ngài nghỉ để đặt ra một khuôn mẫu cho con người. Hành động nghỉ ngơi của Ngài đã biến ngày thứ bảy thành một ‘Đài kỷ niệm bằng thời gian’ cho công cuộc sáng tạo.

Phước hạnh của Chúa đặt trên ngày thứ bảy không giống như bất kỳ ngày nào khác. Đó là sự hiện diện thiêng liêng và sự chấp thuận của Ngài. Khi chúng ta giữ ngày đó, chúng ta bước vào dưới cái bóng của phước hạnh mà Ngài đã đặt để từ lúc Sáng thế.

Việc biệt riêng ra thánh (Sanctification) có nghĩa là công bố một mục đích thánh cho ngày đó. Giống như một vị vua biệt riêng một khu vườn cho hoàng gia, Chúa đã biệt riêng ngày thứ bảy cho sự thông công giữa Ngài và con người.

Sa-bát Lá chắn chống lại thuyết vô thần và tiến hóa

 Nếu nhân loại luôn giữ ngày Sa-bát đúng như mục đích ban đầu, thì sẽ không bao giờ có một người theo thuyết vô thần hay thuyết tiến hóa. Bởi vì mỗi tuần, ngày Sa-bát lại hướng tâm trí con người về quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, nhắc nhở chúng ta rằng mình không phải là sản phẩm của sự ngẫu nhiên.

  • Thi thiên 111:4: “Ngài đã lập một đài kỷ niệm về các công việc mầu nhiệm Ngài; Đức Giê-hô-va là nhân từ và có lòng thương xót.”

  • Khải Huyền 4:11: “Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền năng; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên.”

  • Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11: “Vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy Ngài nghỉ.”

Thế gian cố gắng giải thích nguồn gốc vạn vật qua hàng tỷ năm ngẫu nhiên. Nhưng Sa-bát thiết lập một tuần lễ gồm bảy ngày theo đúng nghĩa đen, đóng ấn cho sự sáng tạo trực tiếp của Đức Chúa Trời. Chối bỏ Sa-bát là mở cửa cho mọi sự lầm lạc về nguồn gốc con người.

Vì Chúa là Đấng Tạo Hóa, Ngài có quyền sở hữu chúng ta. Sa-bát là dấu hiệu công nhận quyền sở hữu đó. Nếu không có sự sáng tạo, Chúa không có quyền ban bố luật pháp; và nếu không có Sa-bát, chúng ta sẽ sớm quên mất sự sáng tạo.

Tại sao Sabbath tuần lễ không dựa trên thiên văn?

 Trong khi Ngày dựa trên sự tự quay của Trái Đất, Tháng dựa trên chu kỳ của Mặt Trăng, và Năm dựa trên sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời, thì Tuần lễ không có bất kỳ cơ sở thiên văn nào. Đơn vị 7 ngày là một “vật thể lạ” trong hệ thống đo lường thời gian, và nó chỉ có thể được giải thích bằng lời phán trực tiếp của Đức Chúa Trời tại tuần lễ Sáng thế.

  • Xuất Ê-díp-tô Ký 20:9-10: “Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.

Sự tồn tại của tuần lễ 7 ngày ở khắp mọi nơi trên thế giới là một bằng chứng lịch sử không thể chối cãi về Sáng thế ký. Vì thiên văn học không tạo ra tuần lễ, nên tuần lễ phải đến từ một sự mặc khải trực tiếp của Chúa cho tổ phụ nhân loại.

Không có hành tinh nào quay quanh mặt trời trong đúng 7 ngày, cũng không có hiện tượng tự nhiên nào lặp lại sau mỗi 7 ngày. Tuần lễ là ‘chữ ký’ của Chúa được đóng dấu vào dòng chảy của thời gian để con người không bao giờ quên Đấng Tạo Hóa.

Khi Chúa Giê-su giữ ngày thứ bảy, Ngài đã xác nhận chu kỳ tuần lễ từ thời Moses là chính xác. Và từ thời Đấng Christ đến nay, lịch sử Do Thái và Cơ Đốc giáo đã bảo vệ chu kỳ đó không bị sai lệch dù chỉ một ngày.

Sự Hài Hòa Giữa Thể Chất Và Sa-bát: Chu kỳ sinh học 7 ngày của con người

Đức Chúa Trời là Đấng thiết kế cả Luật pháp lẫn Thân thể con người, nên cả hai phải hòa hợp hoàn hảo. Họ lập luận rằng con người được “lập trình” để hoạt động theo nhịp điệu sáu-một (6 ngày làm việc, 1 ngày nghỉ). Việc vi phạm nhịp điệu này không chỉ là tội lỗi về tâm linh mà còn là sự tàn phá về sức khỏe thể chất và tinh thần.

  • Thi thiên 139:14: “Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng. Công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm.” (Cơ thể con người phản ánh thiết kế của Chúa).

  • Mác 2:27: “Vì loài người mà lập ngày Sa-bát.” (Sa-bát được thiết kế để phù hợp với nhu cầu sinh học và tâm linh của con người).

  • Xuất Ê-díp-tô Ký 23:12: “Trong sáu ngày, ngươi hãy làm công việc mình; nhưng đến ngày thứ bảy, ngươi hãy nghỉ, hầu cho con bò và con lừa ngươi được nghỉ, và con trai của tớ gái cùng người ngoại bang được hồi sức lại.”

Về sự hồi phục sinh lực – Cơ thể con người đòi hỏi sự nghỉ ngơi mà Chúa đã chỉ định vào ngày thứ bảy. Việc lạm dụng sức lực vào ngày thánh không chỉ là vi phạm luật pháp đạo đức mà còn là sự xúc phạm đối với các quy luật tự nhiên mà Chúa đã ghi tạc vào từng sợi cơ và dây thần kinh.

Về sự cân bằng tâm thần – Trí não con người không thể chịu đựng được áp lực liên tục mà không có sự nghỉ ngơi mang tính định kỳ. Chu kỳ bảy ngày là nhịp điệu hoàn hảo giúp ngăn ngừa sự suy nhược thần kinh và duy trì sự tỉnh táo để thông công với Đấng Tạo Hóa.

Về tính phổ quát của nhu cầu – Chúa không ban Sa-bát vì Ngài cần nó, mà vì con người cần nó. Khoa học về đời sống con người xác nhận rằng một ngày nghỉ sau mỗi sáu ngày làm việc là cần thiết để tái tạo các mô tế bào và phục hồi năng lượng đã mất.

Về sự kết nối giữa trí não và linh hồn)- Vào ngày Sa-bát, khi chúng ta gác lại gánh nặng công việc, các luồng thần kinh được dịu lại, và trí óc trở nên nhạy cảm hơn với tiếng phán của Thánh Linh. Sa-bát là liều thuốc cho cả cơ thể lẫn linh hồn.

 

Về sự đắc thắng của đức tin và cách sống theo 10 Điều Răn

Đặc Điểm Nhận Diện Dân Còn Sót Lại Theo Khải Huyền 12:17

Lời tiên tri chỉ ra rằng trong những ngày cuối cùng, Satan (con rồng) sẽ giận hoảng và đi tranh chiến với một nhóm người cụ thể. Các nhà tiên phong xác định đây là “Dân sự Đức Chúa Trời còn sót lại”

Việc giữ luật pháp không phải là con đường để được cứu rỗi, mà là kết quả của việc được cứu rỗi bởi đức tin. Một người thực sự yêu Chúa sẽ có xu hướng tự nhiên là vâng lời Ngài.

  • Khải Huyền 12:17: “Con rồng giận người đàn bà, đi tranh chiến cùng con cái khác của người, là những kẻ giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Đức Chúa Giê-su.”

  • Khải Huyền 14:12: “Đây là sự nhẫn nại của các thánh đồ: Chúng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và giữ đức tin của Đức Chúa Giê-su.”

  • Ê-sai 8:20: “Hãy theo luật pháp và lời chứng! Nếu dân chẳng nói như vậy, chắc chẳng có rạng đông cho nó đâu.”

Dân còn sót lại không phải là những người tự xưng là thánh, nhưng họ được nhận diện bởi sự vâng phục trọn vẹn đối với 10 Điều Răn, bao gồm cả ngày Sa-bát, trong một thế giới đang chà đạp lên luật pháp của Chúa.

Để trở thành dân còn sót lại, một người không thể chỉ có đức tin mà bỏ luật pháp, cũng không thể chỉ giữ luật pháp mà thiếu đức tin. Phải có cả hai: Luật pháp của Cha và Đức tin của Con.

Sự nhẫn nại của các thánh đồ nằm ở chỗ họ thà chết chứ không vi phạm một điều răn nhỏ nhất. Họ hiểu rằng luật pháp là nền tảng của vương quốc mà họ sắp được thừa hưởng.

Họ giữ các điều răn không phải để trở thành thánh, mà vì họ đã được biệt riêng ra thánh bởi huyết của Đấng Christ. Luật pháp là trái ngọt tự nhiên của một cái cây đã được trồng bên dòng nước ân điển.

Xưng Công Bình Bởi Đức Tin Liên Quan Thế Nào Đến 10 Điều Răn

Nhiều người có xu hướng “chủ nghĩa luật pháp” là cố gắng giữ luật pháp để được cứu). Nhưng phải đặt luật pháp vào đúng vị trí của nó: Luật pháp là tiêu chuẩn, nhưng Đấng Christ là quyền năng.

  • Rô-ma 3:20: “Vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Ngài; vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi.”

  • Ga-la-ti 2:20: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi.”

Luật pháp chỉ có thể đòi hỏi sự công bình, nhưng nó không thể ban phát sự công bình. Chỉ có Đấng Christ, Đấng là Luật pháp sống, mới có thể ngự vào lòng chúng ta và thực hiện việc vâng giữ luật pháp thông qua chúng ta.

Chúng ta giảng về luật pháp cho đến khi con người thấy mình khô héo như sa mạc, và rồi chúng ta chỉ cho họ thấy dòng suối ân điển. Một bên cho thấy nhu cầu, bên kia đáp ứng nhu cầu đó.

Mục đích của Chúa không phải là chúng ta chỉ ‘cố gắng’ giữ luật pháp, mà là chúng ta ‘thực sự’ giữ nó bởi đức tin của Chúa Giê-su. Đó là sự đắc thắng của các thánh đồ.

Luật pháp chỉ có thể đòi hỏi sự công bình, nhưng nó không thể ban phát sự công bình. Chỉ có Đấng Christ, Đấng là Luật pháp sống, mới có thể ngự vào lòng chúng ta và thực hiện việc vâng giữ luật pháp thông qua chúng ta.

Chắp Nối Các Rạn Nứt Trong Luật Pháp Của Đức Chúa Trời

Kêu gọi để thực hiện một sứ mệnh giống: kêu gọi dân sự quay lại với sự thờ phượng thật và phục hồi những phần của Luật pháp (đặc biệt là ngày Sa-bát) đã bị thế lực bội đạo phá vỡ.

  • Ma-la-chi 4:4-5: “Hãy nhớ lại luật pháp của tôi tớ ta là Môi-se… Nầy, ta sẽ sai tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi trước ngày lớn và đáng kinh của Đức Giê-hô-va chưa đến.”

  • Ê-sai 58:12: “Ngươi sẽ xây lại những nền cũ của nhiều đời; người ta sẽ gọi ngươi là kẻ sửa lại nơi sứt mẻ, và kẻ tu bổ đường lối cho người ở.”

  • 1 Các Vua 18:21: “Ê-li đến trước mặt mọi dân sự và nói rằng: Các ngươi đi giông giống giữa hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, hãy theo Ngài; nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn.”

Sứ mệnh chúng ta không chỉ là thay đổi một ngày nghỉ, mà là thay đổi một tấm lòng—từ chỗ thờ phượng cái tôi và truyền thống sang chỗ thờ phượng Đấng Tạo Hóa theo đúng luật pháp của Ngài.

Quyền Năng Của Đức Thánh Linh Giúp Cơ Đốc Nhân Đắc Thắng Tội Lỗi Thực Tế

Đây là điểm kết thúc quan trọng: Vâng giữ 10 Điều Răn không phải là một lý tưởng bất khả thi. Các nhà tiên phong SDA nhấn mạnh rằng Đức Thánh Linh ban quyền năng để con người có thể sống thánh khiết “ngay tại đây và bây giờ”.

  • Ê-xê-chi-ên 36:27: “Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ và làm theo các định lệ ta.”

  • Rô-ma 8:4: “Hầu cho sự công bình của luật pháp được trọn trong chúng ta, là kẻ chẳng noi theo xác thịt, nhưng noi theo Thánh Linh.”

  • Giu-đe 1:24: “Vả, ngợi khen Đấng có thể giữ anh em khỏi vấp ngã và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển Ngài cách vui vẻ, không chỗ trách được.”

Linh Thánh không đến để giải phóng chúng ta khỏi việc giữ luật pháp, nhưng Ngài đến để giải phóng chúng ta khỏi ‘sự bất năng’ trong việc vâng giữ luật pháp. Ngài ghi tạc luật pháp vào tâm linh bằng quyền năng sáng tạo.

Không có một cái cớ nào cho tội lỗi. Mọi vi phạm luật pháp đều có thể được khắc phục nhờ quyền năng của Đấng Christ. Đức Thánh Linh sẽ ban sức mạnh cho mọi ý chí muốn vâng lời Chúa.

Những người sẽ được biến hóa khi Chúa tái lâm phải là những người đã đắc thắng mọi tội lỗi thông qua quyền năng của Thánh Linh. Họ sẽ đứng đó với luật pháp của Chúa được phản chiếu hoàn hảo trong tính cách.

Kẻ hủy phá 10 điều răn

Lời Tiên Tri Đa-ni-ên 7:25: Quyền Lực Nào Đã Tự Ý “Đổi Thời Kỳ Và Luật Pháp”?

Quyền lực “Sừng nhỏ” trong Đa-ni-ên 7 là thế lực tôn giáo đã tấn công trực diện vào thẩm quyền của Thiên Đàng bằng cách sửa đổi bản văn luật pháp của Đức Chúa Trời.

  • Đa-ni-ên 7:25: “Vua đó sẽ nói những lời phạm đến Đấng Rất Cao, làm hao mòn các thánh đồ của Đấng Rất Cao, và định ý đổi những thời kỳ và luật pháp; các thánh đồ sẽ bị phó trong tay vua ấy cho đến một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ.”

  • Ma-thi-ơ 15:9: “Chúng nó thờ phượng ta là vô ích, vì dạy những điều răn của loài người thay cho giáo huấn của ta.”

  • Công vụ 5:29: “Phê-rơ và các sứ đồ trả lời rằng: Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta.”

Quyền lực giáo hoàng đã cố gắng nâng mình lên trên Đức Chúa Trời bằng cách tự ý thay đổi luật pháp bất biến của Ngài. Điều răn thứ tư, vốn chỉ ra Đấng Tạo Hóa, đã bị tấn công để thay thế bằng một ngày nghỉ do con người lập ra.

Trong các cuốn giáo lý Công giáo, điều răn thứ hai về hình tượng bị xóa bỏ, và điều răn thứ tư bị rút ngắn, ngày Sa-bát bị đổi thành ngày Chủ Nhật. Đây chính là dấu vết không thể chối cãi của quyền lực chống lại Đấng Christ.

Sự biến đổi luật pháp là một hành động phản nghịch pháp lý. Khi một quyền lực tôn giáo tuyên bố có quyền thay đổi những gì Đức Chúa Trời đã viết bằng chính ngón tay Ngài, nó đã tự công bố mình là kẻ tiếm ngôi.

Cuộc Đại Chiến Xoay Quanh Việc Phá Bỏ Luật Pháp Của Satan

 Chiến lược của kẻ thù: Satan không tấn công Đức Chúa Trời bằng vũ lực, mà bằng cách tấn công Luật pháp – nền tảng của chính quyền Thiên Đàng. Cuộc chiến bắt đầu trên trời và kết thúc tại trái đất này đều xoay quanh một câu hỏi duy nhất: Luật pháp của Đức Chúa Trời có công bình và có thể giữ được không?

  • Khải Huyền 12:7-9, 17: “Bấy giờ có một cuộc chiến đấu trên trời: Mi-ca-ên và các thiên sứ ngài tranh chiến cùng con rồng; con rồng cũng cùng các sứ nó tranh chiến lại. Nhưng nó không thắng được, và chẳng còn thấy nơi chúng nó ở trên trời nữa… Con rồng giận người đàn bà, đi tranh chiến cùng phần sót lại của dòng dõi nàng, là những kẻ giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Đức Chúa Jêsus.”

  • Ê-sai 14:12-14: “Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống!… Ngươi vẫn bảo thầm rằng: Ta sẽ lên trời, sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Đức Chúa Trời… Ta sẽ lên trên cao những đám mây, làm ra mình bằng Đấng Rất Cao.”

Ngay từ khi bắt đầu cuộc đại tranh hùng trên trời, mục đích của Satan là lật đổ luật pháp của Đức Chúa Trời. Chính để thực hiện điều này mà hắn đã bắt đầu cuộc nổi loạn chống lại Đấng Tạo Hóa, và dù bị đuổi khỏi thiên đàng, hắn vẫn tiếp tục cuộc chiến ấy trên trái đất. Lừa dối con người, và từ đó dẫn dụ họ vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời, là mục tiêu mà hắn kiên trì theo đuổi.

Cuộc chiến giữa Đấng Christ và Satan là cuộc chiến về thẩm quyền tối thượng. Kẻ phản nghịch biết rõ rằng luật pháp là hiến pháp của chính quyền vĩnh cửu. Nếu hắn có thể làm cho một điều răn trở nên vô hiệu trong mắt loài người, hắn đã thành công trong việc gieo rắc mầm mống phản loạn chống lại ngai vàng của Đấng Toàn Năng.

Lịch sử của cuộc đại tranh hùng cho thấy một lộ trình không thay đổi: Satan luôn cố gắng làm mờ nhạt ranh giới giữa sự thánh khiết và tội lỗi bằng cách tấn công tiêu chuẩn đạo đức của Chúa. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời luôn có một nhóm dân sót lại, những người thà chết chứ không phản bội luật pháp của Ngài.

Sự Chuyển Đổi Từ Thứ Bảy Sang Chủ Nhật: Lịch Sử Hay Thẩm Quyền Kinh Thánh?

Việc giữ ngày Chủ Nhật không bắt nguồn từ một mệnh lệnh của Chúa Giê-su hay các sứ đồ, mà là một sự thỏa hiệp lịch sử giữa giáo hội và ngoại giáo La Mã, được củng cố bởi thẩm quyền tự xưng của Giáo hội Công giáo.

  • Mác 7:7-8: “Chúng nó thờ phượng ta là vô ích, vì dạy những điều răn của loài người thay cho giáo huấn của ta. Các ngươi bỏ điều răn của Đức Chúa Trời, mà giữ lời truyền khẩu của loài người.”

  • Ma-thi-ơ 24:20: “Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh trong mùa đông hay là trong ngày Sa-bát.” (Chúa Giê-su khẳng định tính hiệu lực của Sa-bát nhiều thập kỷ sau khi Ngài phục sinh).

  • Công vụ 13:42, 44: “Khi những người Do Thái ra khỏi nhà hội, các dân ngoại xin họ ngày Sa-bát sau cũng giảng lại những lời ấy… Đến ngày Sa-bát sau, gần như cả thành đều nhóm lại để nghe đạo Chúa.”

Sự thay đổi ngày nghỉ là một nỗ lực của con người nhằm cải sửa luật pháp của Đức Chúa Trời. Không có một bằng chứng nhỏ nhất nào trong Tân Ước cho thấy Chúa Giê-su hay các sứ đồ đã bãi bỏ ngày Sa-bát thứ Bảy để tôn vinh ngày thứ Nhất.

Toàn bộ lịch sử của giáo hội trong ba thế kỷ đầu tiên hoàn toàn im lặng về bất kỳ sự thánh hóa nào dành cho ngày Chủ Nhật. Nó chỉ bắt đầu như một ngày lễ hội dân sự của La Mã trước khi được giáo hội ‘rửa tội’ thành một ngày thánh.

Ngày Chủ Nhật là một đứa con của sự bội đạo. Nó không có cha trong Kinh Thánh và không có mẹ trong các sứ đồ. Nó được nuôi dưỡng bởi truyền thống và được thực thi bởi các sắc lệnh của hoàng đế La Mã.

Công giáo tự hào rằng họ có thẩm quyền thay đổi luật pháp của Đức Chúa Trời. Họ đưa ra việc giữ ngày Chủ Nhật như là ‘dấu ấn’ cho quyền lực tinh thần của mình, tách biệt khỏi thẩm quyền tuyệt đối của Kinh Thánh.

Điều Răn Thứ 1 & 2: Sự Lừa Dối Của Việc Thờ Hình Tượng Dưới Các Lớp Vỏ Bọc Hiện Đại

Cuộc tấn công của Satan không chỉ nhắm vào ngày Sa-bát (Điều răn thứ 4) mà còn nhắm vào nền tảng của sự thờ phượng: Đối tượng thờ phượng (Điều răn 1)Cách thức thờ phượng (Điều răn 2). Trong lịch sử, quyền lực giáo hoàng đã xóa bỏ điều răn thứ hai trong nhiều bản giáo lý để đưa việc thờ lạy hình tượng và các thánh vào hội thánh, một sự lừa dối làm lu mờ vinh quang của Đức Chúa Trời.

  • Xuất Ê-díp-tô Ký 20:3-6:“Trước mặt ta, ngươi chớ có các tà thần khác. Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi chớ quỳ lạy trước các hình tượng đó, và cũng chớ hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt con cháu đến ba bốn đời, và sẽ làm ơn cho đến ngàn đời những kẻ yêu mến ta và vâng giữ các điều răn ta.”

  • Phục truyền Luật lệ Ký 4:15-18:“Vậy, các ngươi hãy giữ lấy linh hồn mình cho cẩn thận, vì các ngươi không có thấy hình trạng nào trong ngày Đức Giê-hô-va tại giữa lửa phán cùng các ngươi ở Hô-rếp; e các ngươi làm hư hỏng mình, làm một tượng chạm nào, hình của một sự giả dối nào, hoặc hình kẻ nam hay người nữ, hoặc hình con thú nào trên đất, hoặc hình chim nào bay trên trời, hoặc hình loài côn trùng nào bò trên đất, hay là hình con cá nào ở trong nước dưới đất.

  • Ê-sai 42:8:“Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng chẳng phó sự khen ngợi ta cho những tượng chạm.

Để che giấu khỏi dân chúng việc đưa các nghi lễ ngoại giáo vào trong hội thánh, và để duy trì một hình thức thờ phượng mà Kinh Thánh cấm đoán, quyền lực giáo hoàng đã bạo gan xóa bỏ hoàn toàn điều răn thứ hai khỏi luật pháp Đức Chúa Trời – điều răn vốn cấm thờ hình tượng. Để giữ đủ con số mười, họ đã chia điều răn thứ mười làm hai. Đây là một sự lừa dối khủng khiếp nhắm vào linh hồn con người.

Tôi đã đối chiếu nhiều bản giáo lý và thấy rằng sự vắng mặt của điều răn thứ hai là một đặc điểm chung của các hệ thống bội đạo. Họ dạy con người rằng hình tượng chỉ là ‘phương tiện truyền đạt’, nhưng Đức Chúa Trời phán rằng sự hiện diện của hình tượng chính là sự sỉ nhục đối với vinh quang của Ngài. Đây chính là lớp vỏ bọc hiện đại của sự phản nghịch.

Các Lời Tiên Tri Về Thế Lực Quyền Bính Tấn Công 10 Điều Răn

Thế lực “Sừng Nhỏ” không chỉ là một quyền lực chính trị, mà là một quyền lực tôn giáo tiếm quyền Đức Chúa Trời, nhắm thẳng vào trung tâm luật pháp của Ngài để thiết lập một vương quốc của sự phản nghịch.

  • Đa-ni-ên 7:25:“Vua đó sẽ nói những lời phạm đến Đấng Rất Cao, làm hao mòn các thánh đồ của Đấng Rất Cao, và định ý đổi những thời kỳ và luật pháp; các thánh đồ sẽ bị phó trong tay vua ấy cho đến một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ.”

  • 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3-4:“Mặc dầu ai dỗ dành mình cách nào, cũng đừng tin. Vì phải có sự bội đạo đến trước, và có người tội ác hiện ra, là con cái của sự hư nát, tức là kẻ đối địch, tự nhấc mình lên trên hết mọi sự người ta gọi là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ phượng, đến nỗi ngồi trong đền thờ Đức Chúa Trời, tự xưng mình là Đức Chúa Trời.”

  • Khải Huyền 13:5-6:“Nó được ban cho cái miệng nói những lời kiêu ngạo và phạm thượng; và nó lại được quyền làm việc trong bốn mươi hai tháng. Vậy, nó mở miệng ra nói những lời phạm đến Đức Chúa Trời, phạm đến danh Ngài, đền tạm Ngài, cùng những kẻ ở trên trời.”

Lời tiên tri nói rằng nó sẽ ‘định ý đổi thời kỳ và luật pháp’. Hãy lưu ý rằng đây là luật pháp của Đấng Rất Cao. Con người có thể đổi luật pháp của con người, nhưng kẻ tội ác này lại dám can thiệp vào hiến pháp của Thiên Đàng. Việc nó xóa bỏ điều răn thứ hai và thay đổi điều răn thứ tư là bằng chứng rõ ràng nhất về việc thực hiện lời tiên tri này.

Dấu hiệu của quyền lực này là gì? Đó chính là việc nó tuyên bố có quyền thay đổi các mạng lệnh của Đức Chúa Trời. Khi được hỏi về bằng chứng cho thẩm quyền của mình, giáo hội này luôn chỉ vào việc thay đổi ngày Sa-bát sang Chủ Nhật – một hành động mà Kinh Thánh không hề cho phép.

Cảnh Báo Về Hiểm Họa Của Chủ Nghĩa Vô Luật (Antinomianism)

Chủ nghĩa Vô luật (Antinomianism) là quan điểm cho rằng dưới thời kỳ Ân điển, Cơ Đốc nhân không còn nghĩa vụ phải vâng giữ Luật pháp Đạo đức (10 Điều Răn). Đây là một “sự lừa dối ngọt ngào” nhưng mang tính hủy diệt, vì nó tách rời niềm tin khỏi sự vâng phục, biến ân điển thành giấy phép để phạm tội và chuẩn bị cho thế gian đón nhận sự nổi loạn cuối cùng chống lại Thiên Đàng.

  • Giu-đe 1:4:“Vì có mấy kẻ lẻn vào trong giữa anh em, là những kẻ từ lâu nay đã bị chỉ định cho sự phán xét nầy, tức là những kẻ bất đạo, đổi ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta ra sự phóng túng, và chối Đấng làm Chúa độc nhất và Chúa chúng ta, là Đức Jêsus Christ.”

  • 2 Phi-e-rơ 2:19:“Họ hứa sự tự do cho người khác, mà chính mình họ làm tôi mọi cho sự hư nát; vì có người nào chịu thua ai, thì làm tôi mọi cho kẻ đó.”

  • 1 Giăng 2:4:“Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, và lẽ thật không ở trong người đó.”

Satan đang làm việc để lừa dối ngay cả những người tuyên xưng đức tin, khiến họ tin rằng luật pháp của Đức Chúa Trời đã bị bãi bỏ. Hắn trình bày ân điển như một sự bao che cho sự vi phạm, nhưng hãy nhớ rằng: sự công bình của Đấng Christ không bao giờ che phủ cho những tội lỗi chưa được từ bỏ và sự cố ý vi phạm luật pháp.

Chủ nghĩa vô luật là con đẻ của sự bội đạo. Nó dạy rằng chúng ta có thể yêu Chúa mà không cần vâng lời Ngài. Nhưng yêu thương mà không vâng lời chỉ là sự đa cảm trống rỗng. Một tin lành không đòi hỏi sự vâng phục luật pháp là một tin lành giả mạo, không có quyền năng cứu rỗi.

Nhiều người nghĩ rằng họ đã đạt tới đỉnh cao của sự tự do khi họ tuyên bố mình ở ngoài luật pháp. Họ không biết rằng họ đang rơi vào vòng nô lệ của Satan. Sự tự do thực sự không phải là tự do để phạm tội, mà là tự do khỏi tội lỗi – điều đó có nghĩa là được giải phóng để vâng giữ luật pháp thánh.

Tranh Luận Chống Lại Thần Học Xóa Bỏ Luật Pháp

Chúng ta cần đối đầu trực diện với trào lưu “Antinomianism” (Chủ nghĩa Vô luật) — quan điểm cho rằng dưới thời kỳ Ân điển, 10 Điều Răn đã lỗi thời. Lập luận của ông không chỉ dựa trên đức tin mà còn dựa trên logic học chặt chẽ: Việc xóa bỏ luật pháp sẽ dẫn đến việc xóa bỏ chính khái niệm về tội lỗi và nhu cầu cần Đấng Cứu Thế.

  • 1 Giăng 3:4: “Còn ai phạm tội thì cũng trái luật pháp; và tội lỗi tức là sự trái luật pháp.” (James White dùng câu này làm nền tảng: Nếu luật pháp mất, tội lỗi cũng mất).

  • Rô-ma 4:15: “…vì đâu không có luật pháp, thì cũng không có sự phạm luật.”

  • Rô-ma 3:31: “Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.”

Xóa bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời đồng nghĩa với việc tuyên bố thế gian này không còn tội lỗi. Nếu không có luật pháp để định nghĩa tội lỗi, thì không có tội nhân; và nếu không có tội nhân, thì cái chết của Đấng Christ trở thành một sự lãng phí vô ích.

Luật pháp không cứu chúng ta, đúng; nhưng nó chỉ ra rằng chúng ta cần được cứu. Một người rơi xuống hố không thể trách cái thước dây đã đo độ sâu của cái hố đó. Luật pháp là cái thước dây, và Thập tự giá là sợi dây cứu rỗi.

Vai trò của 10 điều răn

10 điều răn bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời

Đức Chúa Trời ban luật pháp không phải để hạn chế tự do, mà để bảo vệ chúng ta khỏi nỗi đau của tội lỗi.

  • Giăng 14:15: “Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta.”

  • 1 Giăng 5:3: “Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, ấy là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài; điều răn Ngài chẳng phải là nặng nề.”

  • Xuất Ê-díp-tô 20:6: “…và làm ơn cho đến ngàn đời những kẻ yêu mến ta và vâng giữ các điều răn ta.”

Vâng phục không phải là một sự nô lệ phục vụ, mà là một sự phục vụ của tình yêu. Khi luật pháp được ghi vào lòng, nó sẽ điều khiển cuộc sống bằng quyền năng của sự tận hiến.

Tình yêu là linh hồn của luật pháp. Không có tình yêu, việc giữ luật pháp chỉ là hình thức chết chóc; nhưng có tình yêu, nó trở thành hơi thở của sự sống.

Chức Năng Của Luật Pháp: Tấm Gương Soi Tội Lỗi Dẫn Dắt Con Người Đến Với Đấng Christ

Trong kế hoạch cứu rỗi, Luật pháp không đóng vai trò là “đấng cứu thế”, nhưng nó là “người dẫn đường” không thể thiếu. Luật pháp 10 điều răn như một tấm gương: nó cho thấy vết bẩn nhưng không thể tẩy sạch vết bẩn; nó dẫn chúng ta đến với “nguồn nước sự sống” là Chúa Giê-su.

  • Rô-ma 3:20: “Vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Ngài; vì chưng luật pháp cho người ta biết tội lỗi.”

  • Ga-la-ti 3:24: “Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến cùng Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình.”

  • Gia-cơ 1:23-25: “Vì nếu có kẻ nghe lời mà không làm theo, thì khác nào người soi mặt mình trong gương, thấy rồi thì đi, liền quên mặt ra thể nào… nhưng kẻ nào soi kỹ luật pháp trọn vẹn… thì sẽ được phước trong việc mình làm.”

Luật pháp chỉ ra tội lỗi cho chúng ta, giống như một tấm gương cho thấy vết bẩn trên khuôn mặt. Nhưng tấm gương không thể rửa sạch vết bẩn; nó chỉ dẫn chúng ta đến với Đấng Christ, nguồn tẩy sạch duy nhất.

Luật pháp giống như một cái la bàn chỉ cho chúng ta thấy mình đang đi chệch hướng. Nó không thể đưa chúng ta về nhà, nhưng nó buộc chúng ta phải tìm kiếm một Đấng Chăn Chiên có thể dẫn chúng ta về.

Đừng bao giờ nhầm lẫn tấm gương với dòng nước. Luật pháp là tấm gương soi, Đấng Christ là dòng nước tẩy sạch. Bạn không thể dùng tấm gương để rửa mặt, nhưng nếu không có nó, bạn sẽ không biết mình cần phải rửa.

Luật Pháp Là Thước Đo Chuẩn Mực Trong Sự Phán Xét Điều Tra

Sự phán xét không dựa trên cảm xúc hay truyền thống loài người. Khi sổ sách trên trời được mở ra trong Nơi Chí Thánh, 10 Điều Răn — vốn được lưu giữ trong Hòm Giao Ước — chính là thước đo duy nhất để xem xét đời sống của mỗi người xưng danh theo Chúa.

  • Gia-cơ 2:12: “Hãy nói và làm như những người sẽ bị phán xét bởi luật pháp của sự tự do.”

  • Truyền đạo 12:13-14: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi. Vì Đức Chúa Trời sẽ đem phán xét mọi công việc, đến nỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hay là ác.”

  • Đa-ni-ên 7:10: “Một dòng sông lửa chảy ra và phát đi từ trước mặt Ngài… Sự phán xét đã thiết lập, và các cuốn sổ đã mở ra.”

Luật pháp của Đức Chúa Trời là tiêu chuẩn duy nhất mà theo đó đời sống và tính cách của con người sẽ được xem xét trong cuộc phán xét điều tra. Mọi hành động, dù kín nhiệm đến đâu, cũng sẽ được đo lường bởi thước đo thánh khiết này.

Sự phán xét phải có một tiêu chuẩn, và tiêu chuẩn đó không thể là gì khác ngoài chính Luật pháp mà con người đã vi phạm. Nếu không có luật pháp vĩnh cửu, tòa án thiên thượng sẽ không có cơ sở để định tội hay minh oan.

Hòm giao ước là trung tâm của nơi chí thánh vì nó chứa đựng luật pháp. Trong ngày lễ chuộc tội trên trời, mọi tội lỗi đã được xưng ra sẽ được đối chiếu với tiêu chuẩn của luật pháp này trước khi được xóa sạch vĩnh viễn.

Chủ Nghĩa Luật Pháp (Legalism) Trái Ngược Với Sự Vâng Phục Bắt Nguồn Từ Tình Yêu

Sự khác biệt giữa một người giữ luật pháp theo chủ nghĩa luật pháp và một Cơ Đốc nhân chân chính không nằm ở hành động bên ngoài, mà ở động cơ bên trong. Chủ nghĩa luật pháp là nỗ lực tuyệt vọng của con người nhằm đạt được thiên đàng bằng công đức, trong khi sự vâng phục thật sự là đóa hoa nở rộ từ gốc rễ của tình yêu sau khi đã nhận được ân điển.

  • 2 Cô-rinh-tô 5:14: “Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng ta, và chúng ta tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết.”

  • Rô-ma 13:10: “Sự yêu thương chẳng hề làm hại kẻ lân cận; vậy yêu thương là sự làm trọn luật pháp.”

  • Ga-la-ti 5:6: “Vì trong Đức Chúa Jêsus Christ… điều có giá trị là đức tin hay làm ra bởi sự yêu thương.”

Ai cố gắng đạt được thiên đàng bằng việc làm của chính mình qua việc giữ luật pháp, người đó đang cố gắng làm một điều không thể. Con người không thể được cứu trong sự bất tuân, nhưng những việc làm của họ không nên bắt nguồn từ sự sợ hãi hay tính toán, mà từ một tấm lòng mới được tái sinh bởi tình yêu.

Chủ nghĩa luật pháp là sự nô lệ; nó là cố gắng trả nợ cho một món quà đã được ban cho miễn phí. Sự vâng phục chân chính là hơi thở của đức tin; chúng ta giữ luật pháp không phải để trở nên công bình, nhưng vì Đấng Christ đã làm cho chúng ta trở nên công bình.

Đừng giữ luật pháp để được sống, nhưng hãy giữ luật pháp vì bạn đang sống trong Đấng Christ. Sự khác biệt này chính là ranh giới giữa sự chết và sự sống, giữa tôn giáo của loài người và đức tin của Đức Chúa Trời.

Sự Hòa Hợp Tuyệt Đối Giữa Ân Điển Cứu Rỗi Và Việc Vâng Giữ Luật Pháp

Ân điển và Luật pháp không phải là hai kẻ thù, mà là hai mặt của một đồng tiền trong kế hoạch cứu rỗi. Luật pháp cho thấy tiêu chuẩn của sự công bình, còn Ân điển ban cho quyền năng để đạt tới tiêu chuẩn đó. Ân điển cứu chúng ta khỏi tội lỗi (vi phạm luật pháp), chứ không cứu chúng ta trong tội lỗi (tiếp tục vi phạm).

  • Rô-ma 3:31: “Vậy, chúng ta nhân đức tin mà hủy bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.”

  • Ê-phê-sô 2:8-10: “Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu… Vì chúng ta là việc tay Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.”

  • Rô-ma 6:15: “Vậy thì làm sao? Chúng ta sẽ phạm tội vì mình không thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển hay sao? Chẳng hề như vậy!”

Ân điển và Luật pháp có sự hòa hợp tuyệt đối. Ân điển của Đấng Christ được ban cho không phải để giải phóng con người khỏi việc giữ luật pháp, nhưng để họ có thể vâng giữ luật pháp ấy bằng một tấm lòng yêu thương.

Tin lành không bao giờ hạ thấp tiêu chuẩn của luật pháp để phù hợp với sự yếu đuối của con người. Thay vào đó, nó nâng con người lên đến tiêu chuẩn của luật pháp thông qua quyền năng biến đổi của ân điển.

Ân điển là bàn tay cứu rỗi vươn xuống vực thẳm của luật pháp đã bị vi phạm. Nó không kéo luật pháp xuống vực cùng với tội nhân, mà kéo tội nhân lên để đứng vững trên nền tảng của luật pháp thánh.

Ấn Của Đức Chúa Trời Trong Mạng Lệnh Sa-bát

Trong luật pháp pháp lý của loài người, một sắc lệnh chỉ có hiệu lực khi có ấn tín (con dấu) của người ban hành. Ấn tín đó phải bao gồm ba yếu tố: Tên, Chức vụ, và Lãnh thổ của nhà vua.Trong toàn bộ 10 Điều Răn, duy nhất Điều răn thứ 4 chứa đựng đầy đủ các yếu tố của “Ấn tín Đức Chúa Trời”, biến nó thành trung tâm pháp lý của cả bảng luật pháp.

  • Xuất Ê-díp-tô 20:11: “Vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va [Danh] đã dựng nên [Chức vụ: Đấng Tạo Hóa] trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó [Lãnh thổ], qua ngày thứ bảy Ngài nghỉ…”

  • Ê-xê-chi-ên 20:12: “Ta cũng cho chúng nó các ngày Sa-bát ta, để làm một dấu giữa ta và chúng nó, hầu cho chúng nó biết rằng ta là Đức Giê-hô-va làm cho chúng nó nên thánh.”

  • Ê-sai 8:16: “Hãy thắt bảng chứng này lại, và đóng ấn luật pháp ta nơi các môn đồ ta.

Ấn tín của luật pháp Đức Chúa Trời được tìm thấy trong điều răn thứ tư. Đây là điều răn duy nhất trong cả mười điều mang lại cho chúng ta cả tên và danh hiệu của Đấng Ban Luật Pháp.

Một ấn tín gắn liền với một bộ luật là để xác định thẩm quyền của người ban hành. Nếu không có điều răn thứ tư, 10 Điều Răn sẽ không cho biết ai là tác giả của chúng hoặc họ cai quản lãnh thổ nào.

Tính vĩnh cửu của 10 Điều Răn

Tính Vĩnh Cửu Của 10 Điều Răn

Nếu luật pháp có thể bị thay đổi hoặc bãi bỏ, thì Chúa Giê-su đã không cần phải chịu chết. Chính vì luật pháp là bất di bất dịch và hình phạt của tội lỗi (sự vi phạm luật pháp) là cái chết, nên Đấng Christ mới phải hy sinh để cứu chuộc nhân loại.

  • Thi thiên 89:34: “Ta sẽ không phản giao ước ta, cũng không thay đổi lời đã ra khỏi môi miệng ta.” (Khẳng định tính bất biến của lời phán và giao ước từ bảng đá).

  • Rô-ma 3:31: “Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.”

  • Gia-cơ 2:10-12: “Vì người nào giữ hết cả luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng như phạm hết thảy… Hãy nói và làm như những người sẽ bị phán xét bởi luật pháp của sự tự do.”

Mười điều răn không phải là sản phẩm của trí tuệ con người, cũng không phải là luật lệ của một quốc gia đơn lẻ. Chúng bắt nguồn từ chính ngai vàng của Đức Giê-hô-va, có trước khi tội lỗi xâm nhập và sẽ tồn tại chừng nào Ngài còn ngự trị.

Mười điều răn là Hiến pháp của vũ trụ. Chúng duy trì sự hòa hợp giữa các thiên sứ trên trời cũng như giữa con người dưới đất. Luật pháp này là bất di bất dịch vì nó là tiêu chuẩn tuyệt đối của lẽ thật.

Chúng ta thấy luật pháp này được đặt trong hòm giao ước ở Nơi Chí Thánh trên trời. Tại sao nó lại ở đó nếu nó đã bị bãi bỏ? Nó ở đó vì nó là trung tâm của sự thờ phượng và là nền tảng cho lòng trung thành của mọi tạo vật đối với Đức Chúa Trời.

10 điều răn đã tồn tại từ trước khi có núi Si-nai

Nhiều người lầm tưởng rằng 10 Điều Răn chỉ ra đời khi dân Y-sơ-ra-ên đứng dưới chân núi Si-nai. Nhưng10 Điều Răn là luật pháp đạo đức vĩnh cửu, hiện hữu ngay từ lúc Sáng thế. Nếu không có luật pháp trước núi Si-nai, thì đã không có tội lỗi (vì “tội lỗi là sự trái luật pháp”), và Đức Chúa Trời đã không thể hình phạt thế gian thời Nô-ê hay Sô-đôm.

  • Sáng thế ký 26:5: “Vì Áp-ra-ham đã vâng lời ta, và đã giữ điều ta phán dặn, mạng lệnh, luật lệ và luật pháp ta.” (Lời này phán trước khi có núi Si-nai hàng trăm năm).

  • Sáng thế ký 4:7: “Nếu ngươi không làm lành, thì tội lỗi đợi cửa ngươi.” (Để Ca-in bị coi là có tội khi giết A-ben, thì điều răn “Chớ giết người” phải đang có hiệu lực).

  • Rô-ma 5:13: “Vì trước khi chưa có luật pháp, tội lỗi đã có trong thế gian; song tội lỗi không bị kể là tội lỗi khi chưa có luật pháp.” (Chứng minh luật pháp phải tồn tại để nhân loại từ A-đam đến Môi-se bị xét đoán).

Luật pháp của Đức Chúa Trời đã tồn tại trước khi con người được tạo dựng. Nếu không, Adam đã không thể phạm tội. Sau khi con người sa ngã, các nguyên tắc của luật pháp không hề thay đổi, nhưng được trình bày cụ thể hơn để phù hợp với tình trạng tội lỗi của con người.

Thật vô lý khi nói rằng tội lỗi tồn tại trước núi Si-nai nhưng luật pháp thì không. Ca-in đã bị rủa sả vì giết em mình; người dân Sô-đôm bị thiêu hủy vì sự dâm loạn. Nếu không có 10 Điều Răn để định nghĩa tội lỗi, Đức Chúa Trời đã không thể thực thi công lý trên họ.

Chúng ta thấy Giô-sép đã từ chối vợ của Phô-ti-pha bằng cách nói: ‘Thế nào tôi dám phạm tội lớn dường ấy cùng Đức Chúa Trời?’ Làm sao ông biết đó là tội nếu điều răn ‘Chớ phạm tội tà dâm’ chưa tồn tại?

Sự Khác Biệt Giữa Luật Pháp Đạo Đức (10 Điều Răn) Và Luật Pháp Nghi Lễ

Một trong những sai lầm lớn nhất dẫn đến việc bác bỏ ngày Sa-bát là không phân biệt được hai hệ thống luật pháp khác nhau trong Kinh Thánh. Trong khi Luật pháp Đạo đức (10 Điều Răn) là vĩnh cửu, thì Luật pháp Nghi lễ (các ngày lễ tiết, hiến tế) chỉ là “bóng mờ” chỉ về Đấng Christ và đã kết thúc tại Thập tự giá.

  • Phục truyền luật lệ ký 10:4-5: “Đức Giê-hô-va viết trên hai bảng đó… rồi tôi để bảng vào trong hòm tôi đã đóng.” (Luật pháp Đạo đức được Chúa viết trên đá và đặt trong hòm).

  • Phục truyền luật lệ ký 31:24-26: “Khi Môi-se đã chép các lời luật pháp nầy vào một quyển sách… hãy lấy quyển sách luật pháp nầy, để bên cạnh hòm giao ước.” (Luật pháp Nghi lễ được Môi-se viết vào sách và để bên ngoài hòm).

  • Cô-lô-se 2:14, 17: “Ngài đã xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta… đó chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ.” (Chỉ về các luật lệ hiến tế và ngày lễ tiết hình bóng).

Có hai loại luật pháp: một loại là bất di bất dịch và vĩnh cửu, loại kia là tạm thời và có tính biểu tượng. Mười Điều Răn là tiêu chuẩn đạo đức đời đời; còn hệ thống nghi lễ với các của lễ thiến tế chỉ là những hình bóng phục vụ cho đến khi Đấng Christ đến.

Hãy chú ý sự khác biệt: Luật của Chúa được viết bằng ngón tay Ngài trên đá và đặt trong hòm giao ước. Luật của Môi-se được viết bằng tay con người vào sách và đặt bên cạnh hòm. Một cái thuộc về bản tính Chúa, một cái thuộc về các nghi lễ tạm thời.”

Chúa Giê-su Khẳng Định Sự Vĩnh Cửu Của 10 Điều Răn Trong Ma-thi-ơ 5

Chúa Giê-su không đến để làm giảm nhẹ giá trị của 10 Điều Răn, mà trái lại, Ngài nâng cao nó lên một tầm cao mới—tầm cao của tư tưởng và động cơ lòng người. Ngài tuyên bố rõ ràng về tính bền vững của luật pháp cho đến khi “trời đất qua đi”.

  • Ma-thi-ơ 5:17: “Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để cho trọn.”

  • Ma-thi-ơ 5:18: “Vì ta bảo thật các ngươi, đang khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi cho đến khi mọi sự được trọn.”

  • Ma-thi-ơ 5:19: “Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng.”

Chúa Giê-su đến để ‘làm cho trọn’ luật pháp, nghĩa là Ngài đến để bày tỏ sự trọn vẹn và chiều sâu tâm linh của nó qua sự vâng phục hoàn hảo của chính Ngài. Ngài cho thấy luật pháp không chỉ là những chữ viết trên đá mà là một nguyên tắc sống động trong lòng.
Chúa Giê-su không hề đối đầu với luật pháp của Cha Ngài. Ngài chỉ đối đầu với những sự giải thích sai lầm và những truyền thống của loài người đã làm vô hiệu hóa luật pháp đó. Ngài đang khôi phục lại vẻ đẹp nguyên thủy của 10 Điều Răn.

Tại Sao 10 Điều Răn Không Thể Bị Đóng Đinh Trên Thập Tự Giá?

 Thập tự giá không phải là nơi Luật pháp bị tiêu diệt, mà là nơi Luật pháp được tôn cao nhất. Nếu Luật pháp có thể bị bãi bỏ hoặc thay đổi, thì Chúa Giê-su đã không cần phải chịu chết để đền tội. Chính vì Luật pháp là vĩnh cửu và không thể thay đổi, nên khi con người vi phạm, chỉ có cái chết của Đấng vô tội mới có thể đáp ứng được đòi hỏi của công lý.

  • Rô-ma 3:31: “Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.”

  • Thi thiên 89:34: “Ta sẽ không phản giao ước ta, cũng không thay đổi lời đã ra khỏi môi miệng ta.”

  • 1 Giăng 3:4: “Còn ai phạm tội thì cũng trái luật pháp; và tội lỗi tức là sự trái luật pháp.”

Thập tự giá của Đấng Christ, thay vì bãi bỏ luật pháp, lại là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy luật pháp đó là bất di bất dịch. Nếu luật pháp có thể thay đổi để phù hợp với tình trạng tội lỗi của con người, thì Chúa Giê-su đã không phải hy sinh. Thập tự giá mãi mãi tôn vinh luật pháp của Đức Chúa Trời.

Đấng Christ chết không phải để cứu con người ‘trong’ tội lỗi (vi phạm luật pháp), mà là cứu con người ‘khỏi’ tội lỗi. Việc đóng đinh luật pháp lên thập tự giá sẽ biến kế hoạch cứu rỗi thành một sự hỗn loạn, vì không có luật pháp thì không có tội lỗi, và không có tội lỗi thì không cần Đấng Cứu Thế.

Đức tin nơi thập tự giá của Đấng Christ là sự công nhận cao nhất rằng luật pháp là công bình. Chúng ta tìm đến thập tự giá vì luật pháp kết tội chúng ta. Sau khi được tha thứ, chúng ta không quay lại chà đạp luật pháp, mà qua ân điển, chúng ta bắt đầu vâng giữ nó.